Tìm kiếm Blog này

Thứ Tư, 22 tháng 6, 2016

NHÀ TÌNH Ở TRONG RỪNG

(Truyện đoạt giải thưởng cuộc vận động sáng tác cho thiếu nhi, Hội Nhà văn Đan Mạch - NXB Kim Đồng, 2013-2015)


Lớp tôi có hai anh em ruột - Lý Sơn Lâm và Lý Thị Thúy Tình.
Cái Tình tóc dài, da trắng, học ngang ngửa với tôi nhưng mặt lúc nào cũng cúi xuống. Thằng Lâm to cao, đen cháy, không bao giờ nói câu gì, trừ khi bị lên bảng kiểm tra miệng.
Hai anh em nó chẳng thấy giày dép bao giờ. Có lẽ như thế cho dễ cuốc bộ. Trường THCS dưới trung tâm xã, rất gần so với bàn chân lũ trẻ đồng rừng. Lớp tôi trừ ba đứa là hàng xóm của trường, còn lại đã có xe đạp. Những chiếc xe không phanh, kêu vang, xích đánh lung tung, nhảy tâng tâng trên con đường, đoạn cấp phối, đoạn hoang sơ. Thường thường bọn tôi gần đến trường thì gặp Lâm và Tình. “Lâm ơi, lên tao đèo”, thằng Lâm như điếc vẫn cùn cụt bước. “Tình ơi, lên xe tớ đi”, bạn cứ đi đi còn một tí thôi mà. Thật chẳng hiểu ra làm sao, muốn thân thiết một tí cũng không được.

Hôm nay, giờ sinh hoạt, cô Thơm nhận xét lớp sơ qua một tí thì thông báo, lớp ta có hai bạn Thanh và Tình được vào đội tuyển thi học sinh giỏi văn cấp huyện. Từ thứ hai tới, các buổi chiều Thanh và Tình sẽ đi học bồi dưỡng.
Tôi hơi cúi mặt nhưng vẫn sung sướng thấy đám bạn đang dồn mắt về phía mình. Còn Tình, kìa sao lại đứng lên…
- Thưa cô nhà em… em không đi được đâu, cô cho bạn khác đi.
- Bài viết về gia đình em hay lắm. Các thầy cô tổ văn đều cho 9 điểm. Em không được nói thế.
Cô Thơm mở cặp, mở quyển sổ to, lấy tờ giấy thi. Cô đọc: “Nhà em ở trong rừng sâu, bên hồ nước xanh, có cây hoa đỏ rực trùm lên mái nhà. Hàng ngày, bố em ở trong rừng, gặp cái gì lấy cái đấy. Mẹ em hay ở nhà nuôi lợn, lâu lắm mẹ không đi đâu, mẹ sợ đốt nương cháy nhà mình. Hàng ngày em dậy từ lúc nghe tiếng gà rừng gáy, cá quẫy một lúc rồi đi học luôn. Trời tối om nhưng em vẫn đi đúng đường. Có hôm gặp người đi rừng họ kêu ma ma rồi bỏ chạy. Em cũng chạy vì sợ nhưng lại đến trường nhanh quá…
Ma ma ma ha ha ha, ma thật chúng mày ôi…
Một tiếng rú lên, một tràng a a a, ruỳnh ruỳnh bàn ghế. Cô Thơm cũng đập bàn, quát, nhưng chả ai nghe tiếng gì. Cái Tình gục xuống, hình như là khóc vì thấy đôi vai rung lên.
- Chúng mày điên à. Im ngay. Im hết…
Thằng Lâm hét lên. Nó đã nhảy ra dãy giữa từ lúc nào, hàm răng cắn chặt, mặt như sát thủ. Im hết thật, ai dại gì mà ngo nghoe lúc này, lơ mơ ăn một chưởng thì tàn tật. Im lặng thì tiếng khóc của cái Tình rõ lên. Nấc nấc, sịt sịt, hư hư… Bọn tôi nhìn nhau, chả biết làm gì. Ngột ngạt thật là khó thở.
Cô Thơm kết thúc giờ sinh hoạt bằng câu, thôi cả lớp nghỉ và đi xuống chỗ cái Tình. Thằng Lâm đã ra trước, nó ngồi dưới gốc phượng, trông xa như một phụ huynh đợi con. 

Buổi tối, lúc ăn cơm, tôi kể chuyện anh em thằng Lâm cái Tình ở lớp. Mẹ chửi luôn, lũ quỉ nó mang chuyện nhà nó ra cho mà biết lại đi làm trò hề. Tôi im lặng, như mình là thằng đầu têu. Bố hỏi, con biết nhà nó chưa? Tôi bảo, con thấy  chúng nó đến chỗ đập Huổi Vả thì mất hút. Bố lắc đầu, cười, thằng này nói như chuyện ma. Tôi lại gần, húc húc đầu vào ngực bố.

*

Chủ nhật ấy, tôi cùng bố mẹ đi nương. Nương không xa lắm, tổng số thời gian hơn ba tiếng, nhưng lằng nhằng cả đi bộ, bơi thuyền.
Đoạn đi thuyền trên đập là thích nhất. Nước trong leo lẻo nhìn rõ lưng, mồm bọn cá thiểu, tép dầu. Những thuyền chở rọ tôm mờ mờ trong sương. Những chú le le thấy người thi nhau ngụp lặn khoe tài năng. Tôi ngửa mặt, hít hà. Gió mơn man, ngọt ngọt, từ mặt hồ lăn tăn lên. Bố nhìn tôi cười, mẹ cu xem cái mặt nghệt kìa. Tôi bị bắt quả tang, mất hứng nhưng núi non trời nước vẫn râm ran trong người.
Thuyền đang lướt lướt giữa hai khe núi. Sát mép nước có một ngôi nhà, đúng ra một túp lều. Mấy bậc đá, một bụi tre, một cây gì hoa đỏ rực trùm lên khiến túp lều lung linh như trong phim.
- Đây là nhà bà Sính. Bà này hồi trước ở bãi giữa sông, ngoài xóm nhà mình. Cái đêm lũ về, sáng dậy nước mênh mông gào thét, tưởng cả nhà đi theo hà bá rồi.
Bố chưa nói xong thì có một bà xách hai cái xô xuống bến. Hình như là xô có cám lợn hay thức ăn gì đó. Bà vừa chạm mép nước, lập tức mặt hồ từng đợt sóng gồ lên ào ào về. Cá, nhiều cá thế. Nhao nhao, đớp đớp, nhảy cao biểu diễn, một vùng hoa mắt. Tôi bị thôi miên, chỉ loáng thoáng nhòe nhòe một người, như cái nhụy của bông hoa cá.
- Hôm nay ông ý đâu mà để bà lơ vơ thế này.
- Đi xẻ. Cả tháng nay có về đâu.
- Ừ, kiếm ít gỗ mà làm nhà. Ngoài bãi đã đành vậy, giữa rừng mà ở lều khó coi lắm. Bao giờ phạt mộc cho em giúp vài buổi nhá.
- Chả biết có làm không, xẻ thì xẻ vậy thôi.
Thuyền vẫn đi, bố vẫn chuyện chả để ý gì. Mãi một lúc sau, mẹ mới bảo tôi, xem bố mày kìa, có ai nghe đâu mà vẫn nói kìa. Tôi bơi nhanh thế cơ à, bố giật mình chống chế.
Câu chuyện giữa bố và mẹ lại tiếp tục.
- Nhà này được hai đứa con, một đứa trắng, một đứa đen, nghe nói học giỏi lắm.
- Đen hay trắng, giỏi hay dốt, ở cái xó rừng này thì cũng đời con trâu cả thôi.
- Đã bảo bao lần rồi, đừng có kiểu đánh đồng. Nhà này nó khác đấy…
- Ừ. Khác. Rồi xem khác thế nào nhé. Mẹ có vẻ rỗi.
Nhà cái Tình, thằng Lâm hình như cũng ở trong này? Tôi nghe bố mẹ nói chuyện với nhau, đã ngờ ngợ, giờ mới hỏi.
- Thì đang nói nhà ấy chứ nhà ai, cái thằng đần này. Mẹ vẫn còn giọng tức bố.
Hóa ra vừa rồi là nhà cái Tình, thằng Lâm. Tôi im lặng, tiếc rẻ, nhớ lại, tưởng tượng. Loang loáng túp lều, trời nước, núi rừng.
Bố mẹ đã chuyển đề tài sang nương sắn. Bố nói, có khi mình chuyển nhà vào trong này, giờ cần phải làm kinh tế, các con lớn rồi, còn học cao lên không thể trông vào mấy sào ruộng. Mẹ bảo, tôi lạy ông, ông thích thì cứ đi mà làm người rừng, tôi ở ngoài xóm, đói tí nhưng văn minh. Bố lắc đầu, đúng là đàn bà chưa chi đã rụt vòi lại. Mà tôi nói cho bà biết, đừng có khinh người rừng nhá… Tôi hỏi, tôi bà, thằng Thanh hôm nay làm người gì đây?

*
Nương sắn nhà tôi tít trên đỉnh núi. Khoảng chục nghìn hốc từ đỉnh xuống. Bao nhiêu mét vuông, héc-ta, người làm nương chả bao giờ tính thế.
Lên đến nương, kệ tôi hổn hển thở, bố mẹ bắt tay vào làm luôn. Sắn đã cao đến cằm, lá lòe xòe đằng trước đằng sau cái đầu bố mẹ. Việc làm cỏ đợt 3 này thường các nhà bỏ nhưng nhà tôi vẫn làm để vụ sau đỡ công. Tôi dốc can, uống một bụng nước xong, khoan khoái ngắm nương nhà mình. Từ dưới đập nhìn lên chỉ biết là xanh ngắt; giờ sát mắt, chỗ xanh rì, chỗ bạc bạc, gió đang lật lên lật xuống xem xét lá.
Bố ơi, mẹ ơi, hí hí… Thằng này vẫn còn đứng đấy mà cười à, làm đi một lúc rồi nấu cơm. Tôi cầm con dao, thử cạo cạo vào lòng bàn tay, đang định chui vào  lối thì lại thấy bố mẹ... Lá sắn xanh xanh ken nhau thành một biển lá, chỉ còn cái đầu hai người lúc nhô lên, lúc chìm nghỉm. Như là bố mẹ bị chôn trong sắn. Bố ơi, mẹ ơi. Cái gì, thằng này vẫn đứng đấy à. Hí hí, con tưởng bố mẹ bị chôn sống trong màu xanh. Tôi cười to thành tiếng và tả lại. Bố cười còn to hơn tôi, còn mẹ thì nói - Đừng có mà gở, ở nhà thế nào cũng được nhưng đây rừng rú, nói một câu phải nghĩ.
Tôi chả nghĩ gì khi đã chui vào trong sắn. Âm u ầm ù, muốn làm cỏ dưới chân phải ngụp mặt xuống như xuống âm phủ. Muỗi như đỉa dưới nước, ào ào xông đến, ve ve cười nói, hôm nay được liên hoan thịt trẻ em. Tôi gãi, đánh đét đét, rồi chửi, vẫn không ăn thua. Tức quá không chịu được, tôi lao cho người thẳng lên, rồi giộng giộng xuống y như những lần ăn cơm bị nghẹn nhẩy nhẩy cho thông cuống họng. Tình hình không suy chuyển, tôi sịt sịt hơi qua kẽ răng bất lực. Bố mẹ vẫn đang đằng trước lom khom, lúi húi, nhấp nhô. Tôi định gọi mẹ về chuyện muỗi nhưng chợt nghĩ bé tí quá nên thôi. Tôi tìm cách làm chung với muỗi. Ấy là như con cá, vừa làm vừa uốn éo, vùng vẫy. Muỗi có vẻ thua, những lấm tấm đen xì lùi ra, vòng u u e e rãn rộng. Kết quả đã trông thấy, khoảng dăm chục hốc sắn cỏ quang vé. Muỗi ông muỗi bà, già lụ khụ, thiếu niên nhi đồng… đấm ngực kêu khóc xa xa. Chúng đang nhìn một cây mồ hôi, một con gì lạ lắm, một quái vật. Này cái võng không người, này cá lượn, này rắn quăng, này ma lóe sáng tắt phụt… Tôi không thể “biểu diễn” lâu hơn được nữa. Công vô ích gấp trăm lần công hữu ích. Kết quả là mệt ấn tôi ngồi xuống… âm ti. Tôi vuốt mặt, luồn tay vào trong áo vã từng nắm mồ hôi ra. Mồ hôi vẫn tiếp tục chảy, như có quả tim chuyên bóp mồ hôi. Tôi định ngồi một lúc cho mệt chẳng còn chỗ mà mệt rồi sẽ làm tiếp. Nhưng muỗi lại hiểu theo cách riêng của loài lấy máu làm cơm. Tôi vừa ngồi trong ù ù tai thở, thì nghe một tiếng hô - Giương vòi thẳng tiến, đánh chén anh em ơi. Tôi chẳng còn tay chân nào mà chống đỡ; quẫy đạp, ngúng ngoắng cũng vô tác dụng trước hàng nghìn cái vòi làm bằng thép trời. Trong đau điếng vô thức, tôi lao ra, mồm kêu, ối mẹ ơi cứu con.
Con ơi, con ơi… Thằng Thanh bị ong đốt rồi… Bố nó ơi…
Mẹ chạy, bố chạy, ào ào ào ào xuống. Tôi được dựng lên, vuốt mặt, vuốt ngực như cấp cứu người sắp chết.
Ong vàng hay bò lỗ? Không phải.
Thế rắn cắn à, chỗ nào? Không phải rắn.
Thế thì làm sao, nói mau không chết ngay bây giờ.
Muỗi. Muỗi cả nước về đốt con.
Úi giời ôi, con tôi là con tôi ơi… Bố ngân dài, giọng đau thì ít, giễu cợt thì nhiều. Mẹ gắt bố, anh còn trề cái môi ra mãi à, mau đốt lửa lên.
Tôi hơ người bên khói lửa. Lửa khói đi đến đâu, nhẹ bẫng đến đấy. Mươi phút sau thì tôi kêu nhẩy lên reo to, khỏi rồi. 
Sau vụ muỗi xuýt xơi tái con người, tôi “được” nấu cơm (mẹ đã bắc từ trước). Nồi cơm đã cạn, ấm nước sắp sôi, bốn con cá khô đang thơm lừng bên than. Tôi ngồi lấy vì một lúc thì hết việc. Bố mẹ vẫn say sưa làm. Đám sắn rung rung, gần gần xa xa, nhảy nhót háo hức…
*
Tôi đã tụt xuống vệnh núi trước mặt. Rừng chỗ này còn nguyên, nứa giang dây leo chằng chịt, thỉnh thoảng lại vút lên những cây to phải năm sáu người như bố ôm mới xuể. Tôi nhìn mãi không thấy ngọn, mỏi quá, hạ cổ xuống thì òa ngay trước mắt một đôi gà. Cái mào, bộ lông, đỏ, mượt, sáng rực lấp lánh. Nhoăn nhoắt nhảy, luồn trên những thân giang. Tôi bị chúng kéo đi, mắt trên không dời; chân, người bên dưới cứ nhấp nhô cao thấp theo.
Tôi sẽ đi mãi theo ánh lông gà, trong niềm sung sướng đến nơi có vượn người mất, nhưng vợ chồng gà rừng đột ngột đổi hướng. Đang âm u rậm rạp chằng chịt bỗng òa ra một khoảng sáng chói mắt. Một khúc gỗ… đang xẻ. Một cái đầu tóc ngắn bù xù và một tóc dài hai bên lưỡi cưa. Tình, cái Tình. Tôi há hốc mồm, đứng như trời trồng. Mấy phút, chỉ xoèn xoẹt xoèn xoẹt tiếng cưa ăn gỗ. Cái Tình cúi mặt, lâu lâu mới hẩy cổ hất mái tóc lòa xòa xuống mắt. Ông bố đang nói chuyện, nhịp nhịp theo đường cưa. Tôi ngồi xuống, giấu mặt trong đám lá giang theo dõi. Tiếng gỗ xật xật xót xót như khóc. Loáng thoáng tiếng ông bố, tiếng Tình lúc nổi lúc chìm - Lấy vợ… lấy chồng… làm nhà… làm nương… không kệ con… con khắc lấy măng bán được tiền… Hai người như kéo co không phân thắng bại. Đẩy kéo kéo đẩy, rì rì xoèn xoẹt, xoèn xoẹt rì rì… thật là nhạt nhẽo. Tôi ngồi chán quá, xuống máu chân, định đứng lên nhưng lại sợ không biết làm thế nào khi bố con Tình thấy mình. Tôi véo chân, vặn người và rẽ rộng đám lá giang ra… kệ, họ nhìn thấy thì xuống kéo cưa là cùng.
Tiếp theo thì tôi chả thèm nhìn bố con thợ xẻ nữa. Phía trước, ngay bên cây đốn hạ, hở ra một cành khế, toàn quả là quả, lúc lỉu, vàng rộm. Sao lại khế trong rừng nhỉ, tự có hay ai trồng? Ngạc nhiên tích tắc thì nước chua te te về, tứa như mạch khe từ thịt lưỡi, chân răng. Mình mà mang được một ôm khế về chắc mẹ khen phải biết. Tôi đứng lên, ma khế dắt đi.
Tôi bước bồng bềnh trong ngập răng, sịt sịt chua ngon, nước chảy xuống cằm. Lúc này chắc phải có cái gậy tre phang vào đít chục cái mới tỉnh được tôi. Quả khế xa xa đang bắt đầu ngắm vào hàm răng. Tôi nhắm mắt…

Ối giời ôi… bố bố… đau quá… đau đau…
Tiếng kêu thất thanh của Tình làm nảy người tôi lên. Tôi nhảy vót một cái lên khúc gỗ, xuống chỗ Tình. Máu. Máu ở chân Tình, ngón cái oặt ra xương trắng hếu. Bố Tình ôm Tình lên, mặt nó nhăn nhó tê dại. Tôi luống cuống chạy vòng quanh, rồi chẳng biết làm gì, đỡ lấy bàn chân Tình. Lấy thuốc lào, gói kia kìa. Xé cái áo ra… giật mạnh vào… Bố Tình hét, tôi ào ào làm theo.
Thế này phải mất hàng tháng nghỉ học rồi. Tôi nói khi băng bó xong, Tình ngồi dựa lưng vào khúc gỗ.
- Cháu là ai mà đến đây? Bố Tình lúc này mới hỏi tôi.
- Cháu học cùng với Tình, cháu đi làm cỏ sắn.
- Thế là học cùng cả với thằng Lâm à.
Vừa nói đến Lâm thì Lâm về, đặt uỵch can nước xuống, cả một xâu cá. Tại con đấy, lấy nước gì cả mấy tiếng đồng hồ; đợi mãi, đành cho cái Tình cầm cưa. Suýt chết. May có thằng bé này ở đâu chạy đến.
Lâm không nhìn tôi. Nó cúi xuống, ghé sát mặt vào chân Tình, thổi phù phù, hỏi đau không. Tình nhăn mặt gật gật.
Thôi cháu về, kẻo bố mẹ cháu sốt ruột đi tìm. Tình cố gắng nhé.
Tôi chào, và bước nhanh. Đến giữa dốc, thằng Lâm chạy theo bảo, tao biết nương nhà mày rồi, đi đường tắt này cho đỡ mệt. Một loáng, đến gốc cây sấu, thằng Lâm chỉ tay… kia nương nhà mày kia kìa.
*
Tắt mặt giời, nhà tôi mới nghỉ. Một đoàn xuôi dốc. Bố vác hai cây chuối tía to vật vã, mẹ một gánh củi, và tôi dao rựa, cuốc, cái can, áo mưa … linh tinh.
Lúc về nhanh hơn, một loáng đã đến túp lều ban sáng. Đã nhá nhem tối, trời nước nhờ nhờ, cây hoa đỏ rực chỉ còn lùm lùm đen đen. Bà Sính giờ này chắc đang cho lợn ăn, bố vừa khoắng cái dầm vừa nói. Cái ông này lại sắp sửa đấy, mê nhà này hay sao ý nhỉ… Dừng lại, dừng lại cho con xuống đây - Tôi nghe nói thế chợt kêu lên.  Ơ cái thằng này bị làm sao thế, xuống đây về bằng cách nào…
Tôi nghiêm giọng nhắc lại chuyện đã kể cho bố mẹ. Tôi nói, phải vào thăm cái Tình, bị nặng lắm, không biết có chữa được không? Tối rồi, lên đấy rồi mò thế nào được đường mà về, thôi thôi thôi… Bố mẹ đều dứt khoát. Kệ con, bố mẹ cứ về trước đi, tôi cương quyết nhảy ào lên.

Nhà tối om, mái sát mặt. Tôi đã bước vào nhưng không dám đi tiếp liền đứng đấy gọi to, Tình ơi, Tình ơi… Không có tiếng đáp, chỉ tiếng lợn réo đằng sau. Một lúc thì tiếng bước chân, rồi cái đèn sáng lên.
- Tình ơi, có đau không… Bác à… Tình ở đâu
- Cháu là ai… Cái Tình nó đi rừng… ba bố con vẫn xẻ…
Tôi nói nhanh, Tình bị cưa vào chân, tận xương trắng hếu.
Ối giời ôi con ơi. Ông ơi là ông ơi sao lại bắt con gái xẻ. Bà mẹ kêu khóc, lảo đảo chạy, đâm vào tôi. Tôi không biết làm thế nào thì may quá… ba bố con Tình về.
Tình được hạ xuống giường từ lưng bố. Bà mẹ run run soi đèn, bà cởi cởi chỗ ngón cái băng bó để xem, Tình hét lên - Ái ái ái chết con rồi.
Thôi bác đừng động vào chỗ ấy. Không sao đâu ạ, vấn đề là phải giữ cho khỏi nhiễm trùng. Tôi nói và thấy ngại khi bất ngờ mình xuất thần người lớn. Bố và Lâm nhìn tôi ngạc nhiên, cảm mến. Thằng Lâm bảo tôi, thôi tối rồi ở đây mai đi học luôn với tao. Tôi từ chối bảo còn sách vở, còn bố mẹ đợi dưới bến.

*


"Nhà Tình ở trong rừng" in trong tập này

Hôm sau, đến lớp tôi hỏi thằng Lâm ngay, cái Tình thế nào rồi và đưa một gói thuốc, dặn dò cách uống, cách bôi (theo lời mẹ tôi). Thằng Lâm kể, Tình đòi đến trường nhưng không ai cõng đi được. Thằng Lâm nắm tay tôi vẻ mặt buồn buồn. Vừa lúc bọn nó vào đông quá thành ra tôi chả nói được gì.
Trống ra chơi, tôi khoác vai thằng Lâm đến gốc phượng. Tôi đã nghĩ suốt bốn tiết, liền bảo Lâm ngay - Tớ có xe đạp, sáng sáng tớ sẽ đến đèo Tình đi. Lâm lắc đầu, không được… từ nhà phải đi thuyền sau đấy mới được đi bộ. Thế à, tớ quên mất, thế toàn đi bộ có được không. Được, nhưng leo núi hàng tiếng đồng hồ, tớ đi thử một lần khổ lắm… Hai đứa im lặng một lúc thì cô Thơm đến. Cô hỏi tình hình Tình, tôi nói một lèo. Cô Thơm nghĩ một lúc rồi bảo đưa Tình ra ở tập thể với cô, chỉ còn cách đấy. Lâm lắc đầu, chưa chắc bố mẹ em đã đồng ý, chưa chắc cái Tình đã chịu đi.
Cuối cùng Tình cũng ra ở với cô Thơm, sau lần tôi cùng cô vào nhà.
Nhờ cô Thơm, nhờ… cái chân tai nạn, bài văn của Tình đã đoạt giải nhất huyện. Tôi vẫn nhớ đoạn kết - …. Con đường của em đi được nối dài thêm từ đợt em phải ngồi một chỗ. Mẹ ơi, bố ơi, anh Lâm ơi, Thanh ơi, các bạn ơi… Tình sẽ có đôi chân khỏe nhất.


Read More..

Thứ Hai, 20 tháng 6, 2016

MỘT CHUYỆN LẰNG NHẰNG





Chỉ được mỗi cái khoe cổ, lúc nào cũng vác mặt lên giời, kíu kíu lộng cả óc.
Chỉ được mỗi cái lắm chuyện, chưa gì đã như nhà cháy, làm như thiên hạ chỉ mình biết kêu không bằng.
Mình kêu mình nghe thì đi một nhẽ…. Đằng này tai nó lại điếc cơ. Toàn cứ lằng nhằng đâu đâu. Nói toạc cả mỏ ra vẫn như nước đổ xuống rãnh.
Hôm nào có khách, phải đẩy nó ra, cho ông chủ thịt, anh em ta mới nhớn được.
… Nói sau đuôi. Chửi trước mặt. Túm tụm cụng mỏ nhau “buôn dưa”, cạnh khóe. Ra góc vườn rỉa lông, thở dài… Và nghĩ ác.

Ba mươi mét vuông xóm gia cầm căng như cái diều bội thực.
Tình hình không suy chuyển. Vẫn ai có việc nấy làm. Vợ chồng ngỗng vẫn như cái loa đứt phanh. Gà trống, gà mái, ngan con, ngan mẹ tướp cánh vì mất ngủ xuyên ngày đêm. Cây bưởi cũng chán đời, cúi mặt lá, quả vẹo, quả đen sạm. Bức tường thỉnh thoảng vữa lại tự nhiên rơi.
*
Hôm nay, hai bà mẹ ngan, hai bà mẹ gà bắt đầu ấp; năm chị mái mang thai bắt đầu nhảy ổ.
Giữa sân, hai ngan bố đang mào tái, tư lự như tượng đài. Một lúc, thì một ông phá tan yên lặng…
- Lo lắm ông ạ. Chỉ cần bây giờ một tràng kíu kíu kéc kéc là tất cả đi tong.
- Thì vưỡn. Tháng trước mấy bà nhà mình chả thụt trứng lại còn gì. Lẽ ra mười lăm, được có chín đã ấp.
- Một quả sa bằng ba quả đẻ. Cái đấy cũng xót nhưng tôi lo là lo bọn tí tì ti kia. … Đang hình đôi mắt, trái tim, oàng một cái như bắn súng, nhỡ quái thai thì khổ tất cả.
- Biết khổ sao không làm gì đi, than thở với tôi thì tôi biết than thở với ai. Tôi là siêu ngan chắc.
Ngan sao gắt lên, sải cánh, chạy như điên. Ngan trắng tưởng ông già giận mình, liền ù té vút theo. Gà trống, gà giò, gà con chả biết mô tê gì, theo quán tính cũng vòng vòng lượn lượn. Nhảy tung lên, đè lưng nhau, oác oác oác vang trời. Ngã dúi dụi, mổ cánh nhau, ặc ặc ặc. Chiến tranh rồi, đánh nhau to mất rồi, ai đó hét lên. 
Ruỳnh ruỳnh theo vòng chữ nhật, mỗi lúc một nhanh. Cát bụi, lá khô mù mịt, xoáy một cơn lốc trên đầu. Gió, bão tự sinh cứ nhè vào tận cuống lông, lông chưa kịp xẹp đã dựng lên, nghiêng ngả. Hình như có đôi đũa khổng lồ nào đang khoắng. Dừng lại đi, chạy mãi như thế này thì đứt hơi mất thôi. Ông chủ ôi, ra nhanh lên, không chết mất.
Hai ông ngan bị tầu hỏa nhập ma đang chiến nhau. Hai ông gà cũng gằm gè như kẻ thù. Từng đôi gà bà quác quác giồng đầu nhau, giật lông nhau như bọn người nữ tranh nhau người nam. Lũ choai choai chả hiểu người nhớn thế nào túm tụm vào từng nhóm, nhảy lên, hạ xuống như đánh bốc.
Điên thật rồi. Chạy mãi thì máu sôi lên chết bỏng mất, án mạng gần lắm rồi.
Đánh nhau thế được cái gì?
Những người đánh nhau không nghĩ thế. Chỉ hai cụ ngỗng lúc này đang xanh mắt góc vườn lo lắng. Họ đang tập trận, biểu dương lực lượng, thị uy vào mình. Này mỏ vừa sắc vừa nặng hàng tạ, này cánh nhoắt một cái lên ngọn cây, nhoằng một cái hạ trúng đích ngay. Này móng sắc hơn lưỡi câu cửa hàng, móc chỗ nào chết chỗ đấy… Và bão tố bị điệu về, từ trời, từ đất, từ bức tường đương xoay xoáy.
Sát ngay nhau, gió oánh vào nhau. Kinh khủng khiếp. Thà nhảy ngay vào cho một nhát chết tươi còn sướng, lại cứ ùng oàng bày đặt nắn tim gan bóp lòng phèo, đau hết cả mình. Hai cụ ngỗng tim rơi xuống ruột một lúc thì chạy. Lạch bạch, cổ cao loằng ngoằng như con lật đật, mắt bị treo tít tít lên thành thử đôi chân như mượn của ai. Mồm kêu, mắt treo, chân vấp. Cái máng, vỏ lon bia, mẩu gạch vô tình thành vật cản. Oạch… oạch… bổ chửng, chổng vó. Mãi vẫn chưa dậy được, mới hơn ba cân nặng nề gì cho cam. Dậy đi, muốn chết à, dậy đi. Tiếng kêu như xé vải. Nguy cơ chết cạn đến nơi vì bọn gà ngan đang xúm lại. Ông không nỡ bỏ bà, bà vẫn đang cố gắng nhưng cái chân chấp chới lên bầu trời mất rồi. Cái cổ lúc này thượt ra như con rắn chết.
Đoàn gà ngan quây lại, phanh kít, chân vẫn còn trượt trượt.
- Làm sao mà chạy? Ngan hỏi một câu rất ngớ ngẩn.
- Làm sao mà chạy. Làm sao mà chạy… Mấy con ngan bé, gà nhiếp đang học nói, đế theo. Vẫn còn mệt, thở hực hực nhưng tiếng cười bật tung cái mỏ mím rồi. Ai cười đầu tiên ý nhỉ? Chẳng biết. Nhìn ngang toàn mắt loe xoe, long lanh.
Ngỗng bà biết tất cả đang dòm mình, cố thót bụng, gồng người nhưng hai chân chỉ ới ới vào khoảng không. Ngỗng ông, dùi mỏ xuống đất, bẩy lên nhưng bà nặng quá, không nhúc nhích.
Cố lên, cố lên. Kíu kíu. Ngan bé, gà nhiếp vỗ đôi cánh cụt lủn cổ vũ. Lúc này chả ý tứ gì nữa trống mái cùng cất tiếng. Ò ó o, quác quác quác, khà khà khà… thật là náo loạn.
Náo loạn mãi như thế này thì chết. Tiếng vỗ cánh, tiếng reo hò đã bớt vì nhạt. Nghĩ là nhạt nhưng chưa đến giờ ăn. Biết làm gì, sân đã hẹp lại còn đổ bê-tông. Vài con đã bỏ đi, mấy con vẫn gan lì, he hé mắt, tận dụng dịp vui. Hai ông bà ngỗng lúc này đã đứt hết dây thần kinh xấu hổ, cứ trơ ra đấy. Kệ, ai cười rụng mười cái lông.
*
Xam xam tối mới có tiếng xe máy, tiếng mở cửa. Cả bọn nhao ra, rướn cổ, móc chân lên hàng rào… Vẫn là thóc, là rau nhưng miếng đầu tiên là ngon nhất. Ngỗng ông tứa nước bọt, đi mấy bước lại quay lại nhìn ngỗng bà. 
Ông chủ đang mở cửa ra. Cả bọn ào tới. Lùi ra, tai nạn giao thông bây giờ. Ái ái, mổ tay người ta à. Chả ai nghe, tiếng rào rạo ngon ngon đã cất lên, ngập tràn. Ông chủ đứng ngắm, mắt tít lại, tay giơ giơ, rập rình đếm…
Hai thằng ngỗng đâu? Hai thằng ngỗng đâu?
Chả ai nghe tiếng, chả ai giả nhời vì còn mải ăn.
Ông hốt hoảng gọi kíu kíu. Lập tức một tràng kèn đồng vang động cả vườn.
Giời ơi, làm sao thế này? Đứa nào du em tôi xuống rãnh thế này? Khổ thân quá, có người gặp tai nạn mà chúng mày vẫn ăn được à… Ông chủ kêu như lệnh vỡ. Rồi ông bế ngỗng lại máng thóc. Tất cả rạt ra, nem nép. Ngỗng không quen ăn bế, cổ cứ ngắc ngắc, chân cứ giãy giãy. Ông thả ngỗng ra. Máng ăn tích tắc lại châu kín mỏ. Ông xua tay, cầm cái roi, vút vút:
- Miếng ăn là miếng nhục. Cho tôi hỏi, ai du bác ngỗng xuống rãnh?
- Tại bố mẹ cháu chạy, cháu chạy theo.
- Thế là thế nào?
- Bố mẹ cháu chạy vòng quanh, cháu sợ cũng chạy vòng quanh.
- Nói thế thì gà Mỹ cũng chả hiểu được. Lằng nhằng quá.
Ông chủ túm ngay một bác gà trống, xoay cho một vòng tưởng lộn hết thóc trong mề ra. Ông nâng gà lên, mồm đối mỏ, hỏi:
- Tôi hỏi anh là phụ trách chuồng nhá, anh nói cho ngắn gọn… Ai du bà ngỗng xuống rãnh?
- Tự bà ấy đấy ạ. … Nhưng…đầu tiên là chẳng hiểu làm sao bọn cháu chạy.
- Trước… đầu tiên ấy là gì?
- Là ông bà ngan lo lắng xong, chạy thục mạng.
- Trước ông bà ngan lo lắng là gì?
- Là tức quá. Đang suy nghĩ, đang giấc mơ, đang đùa nô… thì có tiếng kêu như bom B52.

Ông chủ lần lần ngón tay, đầu gật gật, rồi à lên một tiếng.
Ngan ông được điệu đến. Ông bình tĩnh kìm nén lạ, cái cổ không tiến lên thụt lùi, hai mỏ mím chặt, tiếng khà khà chỉ còn như tiếng kiến. Ông nói chậm, chắc… người khỏe cũng chết dần chết mòn, chuồng mình lại nhiều người nữ đang tuổi sinh sản. Tất cả là do sự kêu la khóc thét của ông bà ngỗng.
Nghe thủng chuyện, ông chủ cười ngất, tưởng gì, chuyện này quá “đan rổ”.
·       Vợ chồng nhà ngỗng đâu, ra chào mọi người một câu nào.
Ông chủ tiến lại, cúi người, vòng vòng hai tay như đón nguyên thủ quốc gia. Đám ngan, gà dạt về một góc, ngớn nhìn. Vợ chồng ngỗng cảm động, đôi mắt rơm rớm trên ngọn cổ chênh vênh… Chỉ giây nữa thôi những tiếng nói trang trọng sẽ cất lên, những tràng vỗ cánh giải tỏa, và rồi tất cả sẽ bình yên thân ái. Nhưng, không được rồi. Ông chủ vừa bước thêm một bước, dự định vuốt ve xong sẽ ngồi xuống, lắng nghe như mình là một loại ngan, một loại gà thì … Kíu kíu kíu, kéc kéc kéc, một tràng. 
Chạy. Chạy. Chạy.
Ngỗng chạy, vấp ngã.
Ngan chạy, đánh võng. Gà chạy, nhảy bay.
Ông chủ đứng trơ hới, thành trọng tài bất đắc dĩ. Mất mấy giây mắt xoay như mắt búp bê, chả hiểu ra làm sao, ông chủ mới giậm chân, hét lên:
·       Giời ơi, dừng lại, điên rồi à, dừng lại…
Có vẻ ông chủ lo mất thóc mất cám vào việc chạy? Không phải. Ông  lo tai nạn xảy ra. Dễ lắm, tốc độ cao, đường xá toàn phân trơn nhèo nhèo, cây gậy, gạch đá; liếng chân lái là… thẳng bước vào nồi.
Ông chủ đập hai tay như cánh gà dưới ao, khản đặc giọng, không còn ra tiếng gì nữa rồi. Chỉ còn thằng người chơi vơi chới với.
Mãi, đâu như dăm phút bất lực thì ông chủ nói một câu chả văn hóa tí nào – kệ mẹ chúng mày, cho điên hết pin thì khắc thôi.
Ông chủ vào nhà, đứng im lắng nghe. Ngoài vườn, tiếng ngỗng kíu kíu khoan nhặt, tiếng ngan khà khá đắc chí. Như chưa hề có chạy loạn chiến tranh.
*
Đêm, ông chủ viết bài xong, khoan khoái lạ. Ông mở cửa sau, nghiêng tai lắng nghe. Tiếng gà con nhiếp nhiếp làm nũng. Tiếng gà mẹ cục cục bảo ngủ đi. Tiếng ngan khà khà, ngủ ngoan nào, mai ông quà cho con giun.
Ông chủ lấy gói thuốc Thăng Long, bật lửa trong bóng tối, đầu vẫn ngập tràn khu vườn. Cạch, cái bật lửa buông tay, xuống sàn nhà. Kíu kíu kéc kéc, mồm ngỗng như cái chuông tự động, xé toang màn đêm. Ông chủ nhắm mắt, lấy tay giữ ngực, đợi phút náo loạn xảy ra. Không, không có, chỉ bổng lên một tí thôi, đêm lại chìm xuống. Thôi các cháu ngủ ngoan nhé, ta cũng đi ngủ đây, mai còn họp nhiều ý kiến, ông chủ nói bé nhưng chắc ngoài vườn vẫn nghe thấy.
Ông chủ ngả lưng, nghĩ vơ vẩn một lúc thì ngủ đến.
Trong giấc mơ ông thấy mình chạy, dẫn đầu đoàn ngỗng ngan gà vịt. Sáng dậy, giấc mơ hẵng còn, ông buồn cười quá, hi hi thành tiếng. Bà chủ đang đánh răng, nói giọng toàn bọt – ôi iết ông ười ái ì ồi á, ược ôi ứ yêu au ãi i (Tôi biết ông cười cái gì rồi nhá, được thôi cứ yêu nhau mãi đi).
Gà vịt ngan ngỗng có nghe thấy không nhỉ. Chắc là có, vì ngoài vườn bỗng ran lên chương trình ca nhạc chào mừng. Đấy, hợp xướng trống mái già trẻ đang… kíu kò kíu, khà khà khà, ò ó o, cục ta cục tác, chiếp chiếp chiếp…  



Read More..

Thứ Bảy, 12 tháng 9, 2015

Tập truyện NGƯỜI RỪNG RỪNG NGƯỜI của DU AN - Liên hệ: 0946251996.


Theo “Người rừng Du An” đến “rừng người” Tây Bắc
(Đọc Người rừng rừng người của Du An, NXB Hội Nhà văn, 2015)

Đoàn Minh Tâm


Trong một lần trà dư tửu hậu, khi bàn về “nẻo vào văn học” của giới cầm bút, nhà thơ Nguyễn Bình Phương cho rằng: mọi người đều khởi nghiệp bằng thơ, sau đó tiếp tục “chung thân” với thi ca hay rẽ sang văn xuôi hay nghiên cứu - phê bình, tùy vào tạng viết bản thân. Chúng  tôi muốn nói tiếp thêm rằng, trên con đường ấy, dẫu đã “trung thành”, “an phận” thì họ (những nhà thơ, tiểu thuyết, nghiên cứu - phê bình) cũng sẽ có đôi lúc “dính” vào truyện ngắn vào một thời điểm nào đó trong đời. Có nhà văn cả cuộc đời cầm bút không viết một cuốn tiểu thuyết, một bản trường ca, một bài nghiên cứu - phê bình nhưng sẽ “dan díu” với truyện ngắn vì sức quyến rũ của nó. Không viết truyện ngắn, con người ta sẽ có cảm giác “thiêu thiếu” một cái gì đó.
Du An là một trong những trường hợp như thế. Xuất phát điểm từ thơ, đã giành nhiều giải thưởng thơ có uy tín như của Hội Văn học Nghệ thuật các Dân tộc thiểu số, tạp chí Văn nghệ Quân đội… song Du An vẫn “cặp kè” với truyện ngắn một cách “tất nhiên nhi nhiên”. Sau tập truyện ngắn Lông gà và lá chuối xuất bản năm  2014, chỉ sau đúng…365 ngày, anh lại in tiếp Người rừng rừng người như một lời khẳng định chắc nịch về khả năng cơ động “hai tay hai súng” của mình.
 Truyện ngắn theo quan niệm của nhà văn Nguyễn Minh Châu là một lát cắt về cuộc sống. Tuy nhiên, lát cắt ấy dài hay ngắn, dầy hay mỏng, nông hay sâu, ở vị trí nào lại phụ thuộc vào quan niệm, tài năng của từng người. Trong Người rừng rừng người, Du An đã lựa chọn cảnh sắc, địa danh, con người, phong tục tập quán, lề thói sinh hoạt mang dấu ấn đặc trưng của vùng núi Tây Bắc - nơi anh coi là quê hương thứ hai của mình - làm đích đến của nghệ thuật. Sẽ thật không ngoa khi nói rằng có một “xã hội” thu nhỏ đang vận động, biến chuyển trong Người rừng rừng người. Miền núi phía Bắc hiện lên qua ngòi bút của Du An với một bên là những con trâu cày, ngựa thồ thong thả bước đi trên ghềnh núi ngoằn ngoèo, một bên là tiếng gầm rú của động cơ xe máy, ô tô lao vun vút trên những con đường nhựa mới mở. Không gian vùng Tây Bắc ấy trải dài đến mênh mông với những nương đồi xanh bát ngát đang đến độ thu hoạch của những người dân yêu lao động và thu mình, nhỏ bé với những viên ma túy đá, những gói heroin được giấu kín trong bụi cây, lùm cỏ bởi khát vọng đổi đời nhanh chóng và sự tham lam vô độ của con người. Ở đó, có những con người vùng cao sống thật thà chân chất và có những màn đấu đá, kèn cựa, vòi vĩnh lẫn nhau của những công chức, viên chức tỉnh lẻ. Để lột tả chân thực sự vận động, dịch chuyển ấy, Du An đã sử dụng không gian như một giải pháp chính. Trong nhiều không gian của Người rừng rừng người như núi rừng, vực sâu, công sở, trường học…chúng tôi đặc biệt chú ý đến không gian ngôi nhà. Nhà là không gian gia đình, tượng trưng cho tổ ấm, cho sự che chở, yêu thương, đùm bọc với mỗi con người. Trong tâm thức người Việt Nam nói riêng, người phương Đông nói chung (và có lẽ là tâm thức của toàn nhân loại) hai tiếng “nhà - gia đình” ẩn chứa những giá trị thiêng liêng vô cùng. Nhà - với tư cách là một thủ pháp nghệ thuật - trong truyện ngắn Du An lại mang tính “hai mặt”. Nhà một mặt vừa là tổ ấm, chỗ dựa vững chắc của mỗi con người, mặt khác lại là nơi con người muốn chối bỏ, giũ bỏ vì những lý do, hoàn cảnh khác nhau. Ngôi nhà là chỗ dựa, là nơi Nghiên (Đông xên) tìm lại chính mình sau khi thất bại trong việc hiện thực hóa giấc mơ công chức, là nơi che chở cho những em thơ (Hạt cơm đau) ngày ngày đi tìm ánh sáng toát ra từ những con chữ. Nhưng ngôi nhà là chốn mà Liến (Ở nương) buộc phải chối bỏ vì bố không chấp nhận việc cô lấy chồng sớm, đứt gánh giấc mơ đại học giữa đường. Bà mẹ (Tìm người) muốn trốn bỏ khỏi căn nhà nơi các thành viên khác trong gia đình (con trai, con dâu, cháu) ngày càng hờ hững, không quan tâm gì đến mình. Nhân vật nàng (Bên hồ), phải từ bỏ gia đình vì trót chửa hoang với một gã Sở Khanh. Bà Dẫn (Tiếng khóc từ nồi cơm) thường xuyên đến chơi, ăn cơm nhà người quen đến tối mịt với về. Bà sợ về ngôi nhà của mình, sợ phải đối mặt với di ảnh của hai người con trai đã hi sinh, sợ phải ăn cơm trong nỗi cô độc một mình. Thúy (Thúy không về) sau những cay đắng, tủi nhục với người chồng nghiện ngập đã bén duyên với người mới, cô không muốn về ngôi nhà chỉ để lại trong mình những tủi nhục, uất ức đấy nữa. Quả thật, không gì thích hợp hơn với việc miêu tả sự biến động của xã hội bằng việc xuất phát từ những biến động của ngôi nhà. Đây là biện pháp được nhiều nhà văn ưa chuộng.
Tuy nhiên, bên cạnh không gian không thể không kể đến vai trò của chi tiết. Nếu không có chi tiết hay thì những thủ pháp nghệ thuật đơn thuần chỉ là cái vỏ vô hồn. Đáng mừng là nhiều truyện của Du An có những chi tiết độcđắt. Trong truyện ngắn Hạt cơm đau, chi tiết các em học sinh ngỡ ngàng hỏi người phụ nữ rằng ăn cơm với thịt cá, nước canh, nước mắm có làm cơm… đau không, thật đắt giá. Nó phản ánh chân thật đến mức nhức nhối, khó chịu hoàn cảnh đói khổ, cơ cực của học sinh vùng cao. Sự giả dối đến đắng lòng của người lớn, sự hồn nhiên, ngây thơ, chất phác đến tội nghiệp của các em học sinh qua câu hỏi quyện lại thành những tiếng nén đầy chua xót cho những ai “trót” đọc. Truyện viết dung dị, ngắn về câu chữ cũng như dung lượng nhưng chỉ bằng một chi tiết, một câu hỏi đã làm tất cả bừng sáng trong thứ ánh sáng của nước mắt và tình thương được đánh thức ở tâm hồn mỗi con người. Một chi tiết phản ánh quá trình thâm nhập thực tế sâu sát của tác giả. Song, chi tiết chúng tôi đánh giá cao nhất trong toàn tập truyện lại nằm ở truyện ngắn Đông Xên. Một chi tiết cho thấy sức sáng tạo, trí tưởng tượng phong phú, tinh tế của Du An. Trong truyện ngắn này, Du An nhắc đến một thứ mùi kì lạ, chưa từng xuất hiện ở bất cứ nơi đâu, trong bất cứ cuốn từ điển khoa học, sách vở nào: Mùi Nậm Tắc. Nậm Tắc là tên một huyện vùng cao mà Nghiên, một chàng sinh viên trẻ ra trường, muốn xin về làm. Trong những tháng ngày thử việc đó, thay vì công việc chuyên môn, Nghiên phải làm những việc như pha trà, rót rượu, giặt quần áo, nhậu đỡ các bậc cha chú… để mong có một suất biên chế chính thức. Sống trong tâm trạng lúc phải căng người ra phục vụ, dạ vâng; Nghiên thấy cuộc đời mình tệ hơn…chó: “Phải, mới tháng trước thôi, Nghiên làm con chó. Con chó chẳng được sủa gâu gâu, ngoáy đuôi chào mừng”. Không thể chịu được cảnh “vào luồn ra cúi”, Nghiên bỏ về nhà. Ở nhà, Nghiên bị thứ mùi nhuốm từ Nậm Tắc ấy hành hạ đến dở sống dở chết. Thứ mùi “tanh tanh lợm lợm như tinh trùng, khai khai nước đái, chua loét mồ hôi, khăn khẳn rượu thịt từ dạ dày nôn ra” làm Nghiên nôn thốc nôn tháo, nằm vật ra như người trúng gió. Thứ mùi ấy ngấm vào mùi Nghiên sâu đến mức “nó trốn vào xương tủy bây giờ bò ra lỗ chân lông sao”. Sau này chỉ nhờ lao động và bằng lao động, Nghiên mới rũ bỏ được cái mùi Nậm Tắc. Chỉ có lao động thật sự, không chịu quỳ lạy hay xin ân huệ của ai thì con người mới là chính mình. Ý nghĩa mùi Nậm Tắc thật thâm thúy, đáng suy nghĩ nhất là trong bối cảnh cử nhân thất nghiệp chưa bao giờ đông như hiện nay và tình trạng nhờ vả, chạy chọt xin việc đã là chuyện “thường ngày ở huyện”.
Mọi chi tiết đều được thể hiện qua nhân vật. Nhân vật không những là người mang vác chi tiết mà còn là linh hồn của câu chuyện. Về khía cạnh này có thể nói Du An đã xây dựng nên những nhân vật có chiều sâu. Anh có cái nhìn nhân hậu về con người. Trong quan niệm của anh, ai cũng có mặt được và chưa được, không ai hoàn hảo tròn trịa và không có kẻ táng tận lương tâm. Dưới ngòi bút của anh, một gã nghiện như Đương, Ban (Thúy không về), một kẻ buôn ma túy như Hoặc (Dưới vực) đều có những điểm, những cư xử hành động rất con người, những người con gái bỏ chồng theo giai như Thúy (Thúy không về), không nghe lời cha mẹ học hành, chạy theo tiếng gọi như Liến (Ở nương) hay nhẹ dạ cả tin bị lừa gạt như nàng (Bên hồ) đều đáng thương hơn đáng trách. Mặt khác, Du An còn xây dựng hệ thống nhân vật chức năng năng làm giảm thiểu những căng thẳng, xung đột, mâu thuẫn trong truyện. Đó đều là những người tốt, yêu thương và giúp đỡ người gặp khó khăn, hoạn nạn như thầy giáo Quảng trong Ở nương, thầy giáo Phong trong Nuôi lợn, tôi trong Hạt cơm đau, mợ Chiên trong Tiếng khóc từ nồi cơm… Chính nhờ các nhân vật này (và hành động của họ) nên mặc dù đều xoáy vào những bi kịch con người, nhưng các truyện ngắn của Du An không tạo nên cảm giác nặng nề, bức bối cho người đọc. Thêm nữa, xuyên xuốt tập truyện ngắn Người rừng rừng người là hình tượng người thầy giáo. Nhân vật này xuất hiện trong khá nhiều truyện. Đó là thầy Quảng trong Ở nương; cô giáo trong Hạt cơm đau; các thầy cô giáo Dũng, Phong… trong Nuôi lợn; Thắng, tôi trong Chữ đêm; Thanh, Hường, Hoan… trong Vườn khế. Ở các nhân vật này, đặc biệt là nhân vật xưng tôi trong các truyện đều phảng phất bóng hình của tác giả. Du An viết về những đồng nghiệp cũ bằng cảm hứng hồi cố, bằng con mắt của người từng trải nghề, qua đó giúp mọi người hiểu thêm về nỗi lòng và cả những “bí mật”, “khúc mắc” của những người “gõ đầu trẻ” nói chung, giáo viên vùng cao nói riêng.
Nhân vật, chi tiết được hòa quyện vào nhau trong một tổ hợp có tên gọi kết cấu, hay cấu trúc. Nơi quyết định chi tiết nào xuất hiện trước, chi tiết nào xuất hiện sau, nhân vật nào còn, nhân vật nào mất, giọng điệu của từng câu truyện… Và trong trò chơi về kết cấu ấy, Du An đã có sự dụng công, biến hóa rất khéo trong từng truyện. Với những câu chuyện như Hạt cơm đau, Tiếng khóc từ nồi cơm, truyện có kết cấu theo lối tuyến tính, giản dị, đưa người đọc đến ngay với điều mình muốn nói bằng những chi tiết xúc động. Những truyện cần truyền tải thông điệp nhiều tầng được mã hóa bằng những kết cấu phức tạp hơn. Bài hát nắng vàng có kết cấu song tuyến khá với dòng ý thức đan xen cùng những đoạn miêu tả hội thoại, ngoại cảnh, trữ tình… để làm bật lên cái…”phức tạp” trong đời sống tinh thần của người trí thức. Người rừng rừng người có kết cấu tựa bản trường ca huyền thoại nhằm tôn vinh tính mẫu…. Đó đều là những kết cấu hợp lí giúp câu chuyện có diễn tiến tự nhiên, không gượng gạo.
Có thể nói, với 14 truyện ngắn trong Người rừng rừng người, Du An đã hoàn thành bức tranh cảnh sắc và con người Tây Bắc của mình. Với những gì đã làm được trong tập truyện ngắn thứ hai này, chúng tôi tin anh sẽ chiếm được cảm tình của bạn đọc ngay cả với những người khắt khe nhất.
Đ. M. T


Read More..

Chủ Nhật, 16 tháng 8, 2015

"Bầu trời trong tầm với của Du An" (Sách mới)



“Thanh bỏ ra ngoài xuôi dốc, rồi ngược dốc.
Mệt, thấy mệt thì đã đỉnh đồi. Gió thật mát.
Thanh nằm, ngửa mặt lên trời, Giơ tay như túm lấy trời.”

Lúc hồn nhiên, lúc thâm trầm, lúc tinh tế, lúc trần trụi, Lên cao thấy trời thấp thật giống như cuốn nhật kí của những giáo viên miền xuôi lên công tác vùng cao. Đó không chỉ là những bài giảng trong mùa đi nương, không chỉ dừng lại ở những đêm vượt dốc vận động các em đến trường. Đó còn là những khát khao, những suy nghĩ trong góc riêng tư của các thầy giáo, cô giáo, bị cuộc sống xô bồ miền xuôi khỏa lấp đi chỉ trực bùng nổ khi trái tim họ lơ lửng trên triền núi cao vời vợi. Du An để những nhân vật của mình bộc lộ tâm hồn một cách thật nhất, thật đến vô tư, thậm chí là trần trụi. Cuộc sống dưới gầm trời trong mắt nhà văn là một sự hòa hợp thú vị giữa những miền văn hóa khác nhau, đan xen giữa những trái tim của các nhà giáo miền xuôi với đồng bào nơi rẻo cao, nó thoắt ẩn thoắt hiện trong từng câu chữ rắn rỏi.
“Tôi ngồi trước tờ giấy trắng. Em ở đâu? Nghĩ ra cái tít rồi, vẫn không dám đặt bút. Tôi thấy dòng chữ trên khoảng không. Một chàng trai, không một trái tim khao khát yêu thương đang dò dẫm, con đường mới mở, đất đỏ bết. Có tiếng chào ông đi đâu. Giọng nói trẻ trung cất lên trong nắng mai: Tôi đi tìm hạnh phúc. Tiếng xích líp reo vang bình minh. Chòm râu bay bay…”
Tên sách: Lên cao thấy trời thấp thật
Tác giả: Du An
Thể loại: Truyện ngắn

Khổ sách: 13. 20,5
Read More..

Thứ Năm, 23 tháng 7, 2015

Truyện ngắn Du An - BÊN HỒ - Mới in báo VĂN NGHỆ CÔNG AN (6/7/2015) - http://vnca.cand.com.vn/Truyen/Ben-ho-357581/



Bên hồ

1

Nàng có một đứa con gái.
Y như nàng, da trắng, tóc dài đen mượt, bảy tuổi đã thấy dáng thanh mảnh.
Không giống nàng, đôi mắt to, lúc nào cũng như ngạc nhiên thích thú.
Nàng có nó từ hôm nào - Người bản không biết tính vòng kinh, ngày rụng trứng như thành phố. Nàng chỉ nhớ… sáng ấy, ăn củ sắn luộc từ tối hôm trước, nuốt chưa qua họng thì… ọe ọe, rồi ồng ộc. Băng băng dòng dòng vót vọt sắn loãng, rớt rãi…
Mẹ đến ôm bụng nàng. Nàng rướn thêm mấy chặp nữa nhưng không còn gì cả, chỉ nước mắt nước mũi vẫn đầm mặt, nhòe mắt.
Mẹ vừa lau mặt cho nàng vừa bảo, khổ rồi con ơi, mày chửa rồi.
- Bây giờ tính sao? Bố hất hàm vào con và mẹ.
- Ngủ với ai thì lấy người ấy, còn tính cái gì nữa. Mẹ giọng chắc chắn.

Nàng bảo anh ấy chăm chỉ, khỏe mạnh, tốt lắm. Anh hứa nếu con có thai thì hai đứa sẽ về Thái Bình báo cáo bố mẹ, làm luôn đám cưới dưới đấy, sau lên trên này cưới nữa.
- Thế thì tốt rồi. Nó đã biết mày chửa chưa?
- Mẹ nói thì con mới biết, chưa báo cho anh ấy.
Nàng chạy luôn đi. Cái đập nước đã xong, nhưng anh còn ở lại đợi nghiệm thu. Anh đang uống rượu cùng ba người trong lán. Nàng vào, tim vẫn thình thình, tiếng thở hãy còn ra tai.
Ngồi xuống luôn đi em, gì mà hớt hải thế?
Nàng không nói được, lặng lẽ chống đũa lên miếng cá. Anh nướng cá giỏi như người bản. Chỉ nhìn màu vàng rộm, trong họng, trong bụng đã nhấp nháy. Nhưng hôm nay…
Anh giục ba lần thì nàng ăn. … Chết rồi lại giống ở nhà… Nàng chỉ kịp kêu thầm như thế thì cả dòng thác ào ào qua miệng. Anh chạy sang ôm bụng nàng. Hai anh kia dừng chén.
Một anh hỏi:
- Em bị đau bụng à?
- Không.
- Em ăn gì cũng nôn à?
- Vâng. Em ăn sắn cũng nôn, ăn cá cũng nôn, mùi khói bếp cũng nôn...
Bữa rượu tan. Hai anh kia thì thầm với anh, rồi về. Anh đi dọn dẹp. Nàng bảo để em. Anh không cho, dìu nàng vào giường nằm, tiếp tục bưng bê lau rửa…
Một lúc thì tay anh vào xoa bụng nàng. Nàng thấy khỏe khoắn liền bảo, chúng mình có con rồi. Anh buông tay ra, nằm ngửa, nói - anh rất vui, nhưng anh phải ra thành phố gấp để điều chỉnh hồ sơ nghiệm thu. Nói đoạn anh hôn nàng, bàn tay đi suốt đằng trước, đằng sau nàng. Nàng hít hà, nuốt nuốt như muốn ăn hết anh.

2

Nàng mang đứa bé đỏ hỏn ra cái lều kỷ niệm. Một bà mẹ xanh lét, một đứa con non bấy, một ngôi nhà mái chạm vai, một cái giường một…
Năm ngày thì trong nhà không còn hạt gạo. Trưa ấy, nồi còn độ lưng bát cơm nguội, nàng đổ nước vào nấu cháo. Cháo muối ngon, ăn nhanh hết. Cả chiều, con bé khóc ngặt, nàng không nghĩ ra là để ít nước cháo bón cho nó.
Đến tối thì con bé sưng hết mắt, mặt phồng đỏ. Lâu lâu nó vục vào vú mẹ một tí rồi lại oặt cổ ra. Nàng bóp, dồn dồn từng vú. Không được, chỉ ri rỉ vài giọt nhờ nhờ.
Nàng mở to mắt, thấy nghẹn nghẹn trong cổ, rồi nước mắt bò bò trên má, xuống cằm, hai bầu vú. Nước mắt đang tụ lại ở hai đầu ti như hai giọt sương, to dần trĩu dần. Nàng đưa miệng con bé lại. Nó chụt chụt ngay lập tức, rồi ửa cổ ra ngay. Nhìn mặt con tái dại, nước mắt nàng lại ứa ra. Nàng lấy vạt áo, chặn ngực.
Không, nàng không khóc nữa. Nàng đặt con bé vào giữa giường, quây khít xung quanh bằng chăn, gối, áo rét và buông màn. Chưa yên tâm, nàng xếp bên ngoài một hàng gạch nữa. Nàng nhìn con, nghèn nghẹn - mẹ về bản, một tí mẹ ra, con ngoan nhé.
Nàng khép cái cửa tre lại rồi đứng ngây ra nhìn. Hình như còn thiếu cái gì… Nàng lại mở cửa, đây rồi cái hộp mì tôm hồi anh còn ở đây. Nàng xé toạc lấy một mảnh, viết nhanh bằng cục than - Cháu bé ở trong nhà, mẹ cháu vào bản một tí rồi về.
Nàng nhìn cái cửa tre có tấm biển chữ đen, rồi quay ngoắt, cắm đầu chạy.

May bố mẹ đều đi nương, chỉ có đứa em ở nhà.
- Sao chị phải ở ngoài hồ?
- Chị có con nhưng chưa cưới chồng.
- Thế cứ ở đây không được à?
- …
- Chị ở ngoài hồ nhỡ ngã chết đuối thì sao?
- …
Nàng cúi mặt, lảng chuyện bằng cách đi xuống bếp. Trên chốc chạn có một miếng bí, trong nồi còn một cái đầu cá, thùng gạo còn độ ba bữa… Nàng chần chừ rồi hai lần vục như thằng trộm. Nàng ra chào đứa em, chị về đây thì nó bảo chị đứng lại đã. Nàng giật mình…
- Chị lấy hết gạo trong thùng mà mang về.
- Thôi, chị chỉ lấy thế thôi. Bố biết em lại bị đòn.
- Em đảm bảo không ai biết chuyện này.
Nàng biết em thương mình. Mẹ thương mình. Bố… cũng thương mình. Nhưng nàng yêu thật nên mới có con. Anh ấy sẽ quay lại, đón hai mẹ con nàng về Thái Bình, làm đám cưới… Thái Bình nhà ở liền nhau, đồng lúa bên trên có sáo diều hát gọi, có con cò to bằng bắp đùi… anh vẫn kể thế.
Nàng chạy như bị con chó đuổi. Tưởng sắp đứt hơi thì về đến túp lều. Im lặng im lặng im lặng. Nàng vừa gọi con ơi con ơi vừa giật cửa lao vào.
Đứa bé không làm sao cả. Nó được bế lên, áp vào ngực mẹ, đang hục hặc tìm vú. Nàng bật ba cái cúc, đầu đứa bé và hai vú, xoay quanh nhau. Một lúc thì biết bị mẹ “lừa”, nó ngửa cổ ra khóc.
Áo dài, áo con đã rơi xuống đất để lại một miền trắng mát rượi. Đứa bé tự tìm được sữa. Nàng vui ngắm con, hai má nhịp nhàng tóp lại phồng lên, nghe cả tiếng ực. Sữa từ đâu ra? Sao lúc nãy không có? Nàng ngạc nhiên nhưng thích thú. Nàng xoa trán, xoa mông con, rồi vuốt vuốt vú mình. Khi nàng đã hiểu vì sao có sữa thì đứa bé lại ngửa miệng lên đầu ti mà khóc. Nàng không còn áo mà cởi, giá lớp da này cũng là một cái áo.
Lúc này thì tất cả quần áo tã lót của hai mẹ con đang nằm dưới đất. Nàng ngồi xuống, chầm chậm nhẹ nhẹ, đưa con từ đùi lên. Nàng nằm xuống lấy con làm “bàn tay” vuốt ve từ trên xuống. Một cảm giác khác, lâu lắm rồi nàng mới có. Nó làm cho nàng nhớ. Có gì như cuộn chảy, giật giật, như reo lên, kêu lên.
Nàng nằm im tận hưởng.
Nàng cong người, thấy mình giống cây chuối bóc bẹ trắng muốt. Nàng oằn oài lật trái lật phải, như nước trên nguồn về gặp phai, đầy ắp, sắp ục một tiếng.
Nàng đợi tích tắc vỡ òa.
Đứa bé bị mẹ “bỏ quên” được một bữa no. Trong mơ nàng thấy anh, nghe tiếng ực ực anh uống nàng. Xong cơn, nàng tỉnh, hai bầu vú vẫn căng níc, đứa bé đang quều quào bàn tay bé xíu lên đầu ti. Nàng đã tỉnh hẳn, rã rời, ngồi thừ ra hỏi mình mơ hay thật. Nàng bóp vú, tia sữa bắn mạnh vào mặt con. Nó cười khanh khách tưởng mẹ đùa. Nàng bóp vú nữa, sữa bắn như súng phun nước đồ chơi. Tiếng cười bằng lợi đỏ hỏn của con làm nàng quên hết. Tại sao nàng lại ra “phát minh” này nhỉ? Tại bất ngờ, tại nhớ anh, tại… chẳng biết làm sao lại như thế…
Nàng đặt con xuống, kệ tã lót tí nữa hẵng quấn, trời còn nóng mà. Nàng cúi xuống thơm con. Mỗi cái thơm có một tia nắng đậu đúng trán con - Nàng thôi, tia nắng cũng thôi. Nàng quay nhìn… ối giời ôi,  cánh cửa vẫn thông thống từ nãy đến giờ. Nàng giật mình rồi hết sợ ngay, nơi này chỉ có nàng giống ma mới ở. Những người làm công trình rút hết rồi. Con tôm con cá chưa có vì từ hôm đập làm xong chưa có trận mưa nào.
Nàng chưa mặc quần áo. Căn lều vẫn đang rung rung, gió nhè nhẹ vờn quanh khe liếp, nắng vàng óng nhảy nhót một tí lại ngoái về nàng. Nàng nhìn con, nhìn mình, thấy ngường ngượng, buồn cười thế nào ý…
Nàng đi nấu cơm. Lửa reo gọi một lúc thì nồi “cười”. Một đốm sôi ục ục ở giữa như từ dưới đất, dưới củi, đáy nồi… cứ thế dâng lên, trào ra. Mẹ hay bảo nồi sủi giữa là nhà có khách. Nàng chả bao giờ có khách, khách chỉ đến gia đình thôi, anh ấy chưa về thì chưa có gia đình. Chắc là người vui, nồi cũng vui theo thôi.  
Nàng ăn cơm trong nghèn nghẹn. Nàng nghĩ phải cố, cơm nóng, canh nóng sẽ có nhiều sữa. Nàng như con ngỗng vươn cổ mãi mà vẫn thừa cơm.

3

“Sữa mẹ” lên trang bìa 1 tạp chí ĐẸP. Những nan nứa nhòe, nắng thủy tinh, nổi bật đôi vú căng mọng hồng tươi, đôi mắt mẹ mãn nguyện xuống đôi mắt con ngây thơ. Tất cả sáng bừng lên, sức sống.  
- Đúng là được trời cho, chuyến này chắc Quang Hùng phải chục mâm chiêu đãi.
- Tuyệt thật. Ánh sáng, bố cục, nhân vật tươi mới… khổ quá tôi tìm một chỗ để chê mà không có.
- Đáng nể thật. Người mẫu này… ngoại giao giỏi cũng không dưới chục triệu một “nháy”. Cho xin địa chỉ đi.
Nhận lời khen từ đồng nghiệp, Hùng chỉ cười cười, trốn tránh.

Đến bây giờ Hùng vẫn nghĩ là mơ. Sao lại có túp lều như thế, sao lại thả vào thiên nhiên như thế…?
Hôm ấy, buổi sáng lễ kỷ niệm 70 năm thành lập tỉnh Y, buổi trưa là tiệc chiêu đãi. Đặc sản địa phương toàn tên lạ; gái đẹp địa phương cô nào cũng căng mọng, nói tiếng phổ thông ngọng nghịu mời rượu.
Hùng không thú với món này. Bài vở, lúc bế mạc đã chuyển một cái tin về tòa soạn, còn tư liệu đầy ắp máy ghi âm, máy ảnh sẽ thoải mái, kiểu gì cũng ok. Nhưng đấy chỉ là mặt tiền, kiểu vỗ tay hoan hô mà những thằng ăn lương phải làm.
Bỏ sau lưng ồn ào chúc tụng, Hùng ra, gọi một cái xe ôm.
- Ông đưa tôi đến một bản xa nhất, có gì lạ nhất.
- Xa thì anh phải ngủ lại.
- Không được, mai đoàn anh phải về sớm rồi.
- Thế thì lạ nhất mà đi về trong vòng buổi chiều được không?
- Được, anh về bản em.
Đến bờ hồ, cậu xe ôm bảo, anh đi theo lối này, cái lều em kể ở cuối bờ bên kia.
Hùng men theo hồ, nắng chang chang. Lòng hồ khô khốc, lổn nhổn gạch đá, vỏ bao xi măng… Thế mà cậu xe ôm nói đi nói lại, hồ bản em đẹp lắm, to lắm. Thôi, thông cảm, nó là công trình lớn, lại ngay sát nhà, tự hào phóng đại là đúng thôi, dân nông thôn đâu chả thế.
Hùng đã gần đến cái lều. Khoảng cách đủ thấy rõ - cột tre, vách nứa, mái broximăng, kiểu lán trại xây dựng. Nhìn trời, xung quanh, Hùng chỉnh lại các thông số máy ảnh, rồi bấm mấy kiểu toàn cảnh.
Anh là khách du lịch… nhà em ở đây à… anh lên không biết mua gì em cầm lấy gọi là quà thăm nhà… Hùng chuẩn bị sẵn những câu quen thuộc, tờ hai trăm nghìn khi đôi mắt đã chạm cửa lều.
Những tia nắng vàng vàng tím tím xoay xoáy vào lều. Chợt một luồng gió, những hạt bụi bị cuốn vào, làn nắng bỗng trở nên óng ánh như kim tuyến. Bên trong, không tin ở mắt mình nữa - một tiên nữ, một thiên thần đang phát sáng.
Hùng như mê sảng bấm máy, không nghe tiếng “tách”, không biết thời gian trôi. Tiên nữ cũng không biết một người đàn ông đang say ngắm mình. Làn da, đôi vú vẫn phát sáng. Cảm giác đứa trẻ lớn lên trông thấy sau mỗi nhịp môi bú mẹ.
Hùng đã rút lui lặng lẽ như lúc đến. Tình thế ấy, mà chào nhau một câu thì sẽ ra sao. Sẽ cứng đơ, thô thiển, chết rí như những vỏ bao xi măng dưới hồ kia. Thôi âu cũng là trời xui, trời cho.

4

Dạo này, nàng đi mót ngô, hái cà phê, đào móng nhà thuê… vo véo, tiết kiệm mẹ đủ ăn, nhưng con không đủ sữa. Nàng không hiểu, mình ăn rất khỏe mà tại sao sữa ít thế. Cái hồi mới ra hồ, nhiều ngày mẹ nhịn mà đứa bé chả mấy khi phải khóc.
Bao giờ cũng thế, nhọ mặt người là nàng cắm mặt chạy gằn về. Chân bịch bịch, tim thình thịch, tiếng khóc của con cứ văng vẳng văng vẳng.
Mồ hôi chỗ làm, mồ hôi dọc đường, theo nàng ướt rượt vào lều. Đứa con bập ngay vú, mồ hôi vào miệng nó trước. Khóc ré lên. Nàng lấy tay lau, rẽ mồ hôi ra, một lúc sữa mới vào. Nàng nhìn con nhịp nhàng ực ực, mệt nhọc tan biến.  
Một tuần liền mưa, nàng phải ở nhà nhìn mưa. Mưa to mà dai, từng sợi nước trắng trắng mờ mờ thẳng xuống, cả ngày không dứt lấy một phút. Nàng lên giường nằm, thấy ren rét, tiếng mưa vẫn đập, ồ ồ trên mái bro. Có gì như sờ sợ, nàng đặt con lên ngực. Lạ, nó không hục tìm vú như bình thường.
Dạo ấy, cũng căn lều này, cái giường này, nàng cũng ở trên ngực anh. Anh bảo, cái hồ này sau sẽ nhiều cá lắm. Nàng đã hỏi một câu “rất hay” (anh bảo thế), em là con cá gì? Anh không trả lời mà riết mạnh tấm thân tròn lẳn của nàng xuống. Nàng thấy mình sắp bẹp vào anh, ở trong anh.
Bây giờ thì nàng biết mình là con cá mắc cạn. Ví dụ như nó ở dưới hồ khô chết kia, ăn nắng, ăn vỏ bao xi măng… rồi biến thành đất đá.
Đứa con đã làm bung cúc áo, đang rứt rứt bầu vú; nó cắt xoẹt nghĩ ngợi vẩn vơ của nàng. Nó đang khóc, đập đập chân xuống bụng nàng. Nàng vỗ vỗ vào cái mông êm êm, nựng, con ngoan thì trời hết mưa, mẹ đi làm, sắp được lấy tiền rồi, mẹ mua hộp sữa… sữa nhiều như trời mưa… mưa đi… mưa đi…

Nàng thấy trong người rần rật, cảm giác quen quen lạ lạ đang bò bò trong thịt. Hình như là hôm ấy… mình làm ra sữa? Tiếng ực ực đều đều của con làm nàng nhớ. Nàng xoa con, xoa khắp người mình. Sữa ơi, sữa ơi… ở đâu về đi.
Suốt tuần mưa nàng mặc độc cái quần lót. Nàng nghĩ, như thế cũng là đi làm. Làm thuê lấy tiền mình ăn ra sữa cho con, làm… này, con cũng được nhiều sữa.
Sáng nay trở dậy, trời quang tinh. Nàng bước ra, nước mênh mông, xanh mát tận chân núi. Cái đập khô khốc hôm qua hôm kia, bây giờ đúng là hồ nước, biển nước. Gió thổi, sóng đánh oàm oạp, đuổi nhau đi, dắt nhau về. Nàng nhẹ bâng trên bờ đập, gió đi theo nàng, sóng từ xa cũng nhìn thấy nàng. Nàng đến chỗ nước tràn bờ. Những vỏ bao xi măng bị mắc lại, nước chảy oằn oằn. Nàng khựng lại… rồi lấy cây nứa đẩy một cái. Như chỉ chờ có thế, nước ào, sóng xô. Vèo vèo những bao xi măng đi. Cái trên cành, cái mắc gốc cây bên dưới.

5

Lún xe ôm nhìn chằm chằm nàng. Theo phản xạ nàng nhìn xuống ngực, ngoái đằng sau… kiểm tra mình. Không có gì. Từ ngày đi làm thuê, nàng cẩn thận, không bao giờ có sự cố quần áo.
- Sao em khác thế!
- Khác thế nào?
- Đen này, gầy này…
- … Xấu này…
- Anh không bảo là xấu nhưng… không giống người trong ảnh.        
Nàng cầm tờ báo, tờ báo rơi luôn xuống đất. Lún nhặt lên đưa lại.
- Đúng là em rồi, nhận đi.
- … Sao… em lại thế này?
- Anh biết đâu được… anh chỉ thấy, rồi mang về cho em.
Lún kể, hôm đấy có anh nhà báo… Hôm qua có người đi xe đánh rơi…
Nàng đứng lặng. Chăm chắm nhìn ảnh, như soi như tìm điều gì.
- Người đi xe đánh rơi trông thế nào?
- Nhìn đằng sau không biết. Chỉ thấy đội mũ, quần áo bảo hộ.
Tờ báo lại rơi. Nàng đi như mộng du về phía phố xa xa, Lún cũng lặng lẽ đi theo.
Độ chục ngày sau, nàng nhận được một cuộc điện thoại qua máy chủ nhà. Người đầu dây kia giới thiệu là nhà báo và hỏi anh Mạnh đã về với mẹ con em chưa. Nàng trả lời ngay là chưa, rồi mới hỏi lại làm sao anh biết. Anh xin lỗi và kể chuyện chụp ảnh trộm, tình cờ gặp Mạnh…
Bảy năm nay, nàng bỏ hẳn mót ngô, núi đồi nương rẫy. Nàng chỉ đi phụ vữa, dọn nhà, trông trẻ… tức là chỉ làm những việc ngoài phố. Con gái nàng đã biết nấu cơm, nấu cám lợn. Tối mịt nàng về, nó dọn cơm sẵn, líu ríu khoe đủ chuyện ở nhà. Nàng nhìn tấm ảnh gài trên vách, tự nhiên thấy bực vì nó lớn nhanh quá.

Điện Biên, 08 - 11/5/2015



Read More..