Tìm kiếm Blog này

Thứ Ba, 14 tháng 5, 2013

Du An, một bước ngoài khung từ những liên tưởng vụn





HOÀNG CHIẾN THẮNG


Có trường liên tưởng làm người ta bực mình, bên cạnh đó lại có rất nhiều liên tưởng, dẫu vụn lại khiến người ta giật mình... văn chương mà để người đọc nảy sinh tâm trạng đó thì đúng thật hiếm lắm. Xưa nay, tôi vốn rất ghét phải khen một ai đó, chẳng phải ích kỷ, hẹp hòi, song quả thực, để khen đãi bôi cho có thì quá bằng “khen cho nó chết” (chữ dùng của nhà văn Nguyễn Khải) vậy nào có khác gì ghét bỏ thù hằn mà làm hại nhau vậy.
       
Một bước cũng là đi
Với Du An, có lẽ là trường hợp không nhiều khiến tôi đặt bút, cũng bởi một phần vì tôi không phải nhà phê bình chuyên nghiệp, có chăng thì cũng chỉ dừng ở mức cảm tính hay tài tử... song, với Trước dấu ba chấm (...), Nhà Xuất bản Văn học ấn hành năm 2013 của Du An cùng một số tác phẩm khác mà tôi đã tiếp cận thì lại chẳng thể đừng cho đặng.
Phải nói ngay rằng, điều khiến tôi chú ý chính bởi cái sự khác, đúng vậy, khác lạ về tứ đã đành mà khác lạ bởi những liên tưởng vụn thì quả hiếm gặp, còn cả khác lạ về tính dục nữa. Thơ Du An rất thông minh, nhiều câu thơ khiến người đọc bật cười và đó là cái sự khác với những gì mặc định kiểu như, nói thịt thì nghĩ ngay là thịt lợn chứ chẳng thể nghĩ thịt dê, thịt vịt, thịt chó hay thịt bò ... và tôi tạm gán cho sự mặc định ấy là “cái khung của sự thói thường” để trên cơ sở đó tìm đến sự rung ngân của người viết, và thử lý giải về một người thơ.
        Sẽ có người bác bỏ những nhận định trên, có sao đâu, bởi đó cũng chỉ là nhận định mang tính chủ quan của cá nhân tôi. Và, quan trọng hơn cả, không phải tôi đang làm cái việc cố thuyết phục một ai đó đồng thuận với những gì tôi đang viết mà chính ở chỗ tôi đang nói lên từ những gì tôi thấy, tôi cảm, có chút ngỡ ngàng, có sự nể phục và quý mến cũng bởi, như tôi đã nói trước đó, tôi không phải nhà phê bình chuyên nghiệp nên tôi không bị lý trí lấn át trong những cảm xúc về thơ mà để sự mẫn cảm cùng trực giác dẫn dụ.
        Có người bảo, rằng thì anh là người miền núi, hay chí ít anh sinh sống ở miền núi thì anh phải có cái chất, cái giọng của núi, có cái nhìn xanh sắc lá, có nhịp đập hòa với cỏ cây, muông thú, thác ghềnh... thì khi đó cái anh viết ra mới bản địa, mới đúng ngữ cảnh, kiểu như đang ăn thịt chó thì không được nghĩ đó là thịt cừu chứ đằng này lại đành hanh, ngoa ngoắt, sao thế được... chẳng giống tính cách người miền núi chút nào. Chính nếp nghĩ đó, cái lề đó, cái thói thường phải thế... đó mới tạo ra trăm bè như một, trầm thì như nhau mà cao thì cũng hệt.
        Một bước ngoài khung, chính là sự vượt thoát ra khỏi “cái khung của sự thói thường” mà làm một Du An hiện sinh. Thoát ra được cái thói thường là vứt bỏ được cái tôi khái niệm để Du An là Du An chứ không phải là Du A, Du B, Du C hay Du X, Y cờ rách nào khác! Nghĩ thì dễ mà làm thì khó lắm lắm. Bởi khi đó anh sẽ bị cho là bất thường, bị chiếu bởi hàng trăm đôi mắt khác và bị quay lưng, nhếch mép kiểu “văn chương gì nó”. Ai cũng hiểu, người viết không làm nên tác phẩm, chính đối tượng tiếp nhận mới làm nên tác phẩm và đưa anh ta trở thành nhà văn, song khi lựa chọn theo hướng khác biệt, dị thường thì rõ ràng đối tượng tiếp nhận của Du An đã bị thu hẹp và khu trú trong một phạm vi nhất định. Vậy điều gì khiến Du An quyết tâm là Du An, phải chăng bởi quan niệm, có một độc giả thực sự đúng nghĩa kiểu Bá Nha - Chung Tử Kỳ thời Xuân Thu Chiến Quốc thì ắt phải hơn bạt ngàn những con người “thói thường”? Vậy thì rõ rồi, dù sao đã nhấc chân, nửa bước, một bước hay một chuyến cũng là đi. Và tôi thấy Du An đã đi như vậy trên hành trình thơ của mình.

Khước từ “cái khung của sự thói thường”
Khảo sát thơ Du An chúng ta sẽ tìm ra câu trả lời cho câu hỏi điều gì làm nên sự khác biệt? Từ những bài thơ được đăng tải trên Tạp chí Văn nghệ quân đội, Tuần báo Văn nghệ, và các diễn đàn văn học khác và ngay trong tập thơ mới nhất Trước dấu ba chấm (...) (đối tượng khảo sát chủ yếu  của chúng tôi trong bài viết này); điều mà chúng ta nhận thấy rõ nét và có hệ thống hơn cả chính là những liên tưởng vụn trong thơ anh, tôi gọi đó là những liên tưởng vụn, bởi nó vụn theo đúng nghĩa, giống như lối phân mảnh trong nghệ thuật viết truyện ngắn, song liên tưởng vụn ở đây còn vụn hơn nhiều. Nếu lạm dụng trào lưu, thì có thể coi đó là sự đập tan, vụn vỡ kiểu giải trung tâm của Hậu hiện đại, hay có gì đó của Đa Đa, nhặt ghép ngẫu nhiên nên thật vụn, vụn lắm, thậm chí chẳng ăn nhập gì nhưng nó vẫn là thơ thậm chí là rất thơ... thì liên tưởng vụn tưởng ngẫu nhiên ấy lại đã là chủ ý và chính điều này đã làm nên sự vượt thoát khỏi “cái khung của sự thói thường”.
        45 bài thơ thì ý tứ, những liên tưởng đều vụn, cảm giác giống như con nước bập bềnh với vạn ngàn cánh hoa bung vỡ nổi nênh, vụn đấy, chi tiết là vậy nhưng tổng thể thì đó là một thảm hoa, đúng vậy, một thảm mềm mại lung linh, chính cái thảm mềm mắt mềm môi, chính cái lãng mạn, trác tuyệt ấy lại được làm nên bởi những mảnh vụn, nghĩ vậy, thấy vậy thì thật tài lắm lắm.
        Giở ngẫu nhiên, bất kì bài thơ nào trong Trước dấu ba chấm (...) đều có thể thấy được những bài thơ, khổ thơ với những liên tưởng vụn, thậm chí vụn trong từng câu, kể mà cũng lạ, ví như Bụi chó đẻ bên đường: Một mùa mưa xanh mướt/ một mùa mưa bị ong đốt/ nở hoa ra để chấm hết/ một năm xanh/ Hở ra một chiêc dép/ một khoảng tròn tròn như mông con gái/một quả còn/ cách một tầm tay với/ Hở ra một con dao quắm/ trồi lên một đồng tiền xu/ cả tiếng nói/... thóc hôm nay năm nhăm cơ/ Thầy cô giáo đi vào/ đoàn gánh củi đi ra/ mấy bà hàng sáo đứng dậy bỏ gốc mít/ ngô thóc còn tít đằng xa/ Con ngựa hí không chịu/ cái đồng hồ chân đi/… thêm một vật nữa làm chi.../ Năm nay chưa đứa trẻ nào đốt/ cuối chạp rồi/ bụi chó đẻ có tự nẩy mầm được/ mùa xuân lội suối sắp vào tới nơi. Chỉ là một bụi chó đẻ với vòng đời theo quan sát và kinh nghiệm: bật mầm, xanh non, nở hoa, tàn lụi, đốt, tiếp tục bắt đầu cho một chu kì mới mà Du An cứ đi nói tận đẩu đâu, tưởng như chẳng liên can gì, ấy vậy mà có, ấy vậy mà nên, vòng đời thì ngắn, còn vòng người liệu có được bao năm? Rồi cũng thở dài, rồi cũng tất bật và nhoắng nhoằng, thời gian “chân đi” thêm làm chi cái thứ đếm chỉ làm thêm xót ruột, xót lòng, thì đã đành ai chẳng sinh ra để chết, có hay không để rồi cũng hết để mà lại luân hồi, tái sinh; hay như: Anh với em như tia chớp/ xoẹt nhau trên mái tóc/ không ai cười, không ai khóc/… chẳng còn đống củi mà đi đậy/ lâu rồi không xem ti vi dự báo thời tiết (Khi mùa mưa đến). Nội trong một khổ thơ, đã thấy có những liên tưởng vụn, lướt trôi, lia nhanh như thể ống kính, một thủ pháp trong điện ảnh. Đang lãng mạn, man man bỗng dưng ụp cái nhảy ngay sang liên tưởng thực, cụ thể đến ngạc nhiên, đến bất ngờ, giống như chiếc bánh đa nhúng nước, phần nhúng thì mềm mà phần khô thì giòn gẫy. Chớp đấy là chớp nào? Chớp từ ánh mắt hay từ trái tim hận thù oán thán để nỗi xoẹt nhau cái nhìn lên tóc lạnh tanh không cười không khóc; đang thế, ấy mà người viết đã lại nghĩ ngay đến cơn mưa thực rồi liên tưởng như một phản xạ “chẳng còn đống củi mà đi đậy” rồi nhảy sang kiểu tự trách mình “lâu không xem ti vi dự báo thời tiết” như thể lên đồng, đang nói nhảm vậy. Song giải mã những liên tưởng vụn này lại thấy có sự gắn kết. Và thực tế, vụn ấy chỉ là đánh lừa người đọc bằng cái vỏ ngôn từ, bởi thẳm sâu, sau bóng chữ, liên tưởng có vụn đâu, vẫn một mạch thống nhất đấy chứ! Này nhé, “chẳng còn đống củi mà đậy” phải đâu nghĩ chớp thì mưa mà đó hẳn phải là chớp của tắt nguội lửa lòng, là sự tức giận hay đại loại thế. Và bởi đó nên chớp ấy ắt phải nảy sinh từ cái sự “chẳng còn đống củi mà đậy”, đó là khi đã tan vỡ, đã không còn gì phải tiếc nuối, gìn giữ, chẳng còn gì luyến lưu. Cơ mà lạ, thật lạ, ấy mà cũng nói được, ấy mà cũng khiến người đọc phải căng óc mà đoán mò. Biết đâu Du An lại chẳng đang xem dự báo thời tiết mà liên tưởng quáng quàng vậy! Ai dám chắc là không? Hay như đây: Thèm như đứa trẻ thấy người lớn tài thật/ lại sợ người lớn 1+1 mà cũng hỏi bằng bao nhiêu/ vô lý có lý chung một cái chăn/ đắp vào thì nóng, bỏ ra thì rét... Và nữa: Có lúc tự hỏi nếu không có tiếng rao Hà Nội sẽ ra sao?/ đêm ngủ mê mỗi người mỗi phòng ai đến gỡ tay ra khỏi ngực... Cũng vẫn là kiểu liên tưởng vụn, song lại là một chuỗi đồng nhất, ấy rằng, nếu không có tiếng rao, Hà Nội mỗi người mỗi phòng, nhẹ vía chìm vào cơn mê, ai đến lay dậy bây giờ, và tiếng rao là ân nhân, tiếng rao như thánh thần, là thuốc tiên kéo người ta trở về thực tại, vùng thoát khỏi cơn mê những tưởng sẽ cứ vậy rồi thế kéo ta đi.
        Thơ Du An lạ, bảo kiệm lời thì cũng phải mà dài thì cũng đúng, và thậm chí nhiều những câu đơn, không hề phức tạp nhưng ngữ nghĩa và ngôn từ được lựa chọn cộng với những liên tưởng vụn lại làm nên sự phức tạp và đó là sự phức tạp của khả năng tư duy ngôn ngữ, thì đó là một sự khác rồi, kiếm tìm làm gì mỏi mắt, ở đấy chứ đâu!
Bảo khác nhưng có hay đâu, thế thì khác để làm gì, thì đây, câu thơ hay đây: Tại sao em lại mua ngoài chợ/ một nghìn một bó mưa hay: Pú Khớ không hỏi ai... đến từ đâu.../ bảo uống rượu ăn cơm đi ngủ/ bảo yêu nhau thì ngồi với lửa... lúc lên miên man ngược suối/ lúc về dốc đuổi bàn chân/ em phanh gấp bằng đôi mắt/ anh còn lên đây nữa không và: con ôm mẹ mười ngày, mỗi ngày mẹ đi nghìn bước/ con chẳng thấy mẹ ở đâu mà chạy đằng trước. Rồi thì: Ếm về rồi, lạ đã thành quen/ có muốn ở Mường Nhà mãi không?/ cầm hộ em cái váy... mà bài thơ hay thì cũng nào có hiếm, đây: Lên Pú Khớ, Trước dấu ba châm (...), Nằm ôm mẹ, khi mùa mưa đến... thế thì gia tài thơ Du An nào có phải đâu ít thơ hay. Còn nhiều yếu tố khác khiến Du An làm nên sự khác biệt, và đều xuất điểm từ những liên tưởng vụn mà ra. Và sự rung ngân của người thơ này cũng rất khác lạ. Cùng lúc rung ngân hướng đến mọi chiều, mọi trạng huống, chi tiết, và anh  đã đưa cả vào thơ mới thành nên những liên tưởng vụn.

Và tính dục trong thơ Du An
Tính dục/ yếu tố sex trong thơ Du An cũng xuất hiện với tần xuất kha khá, và có lẽ hình ảnh thường thấy là cây chuối, lá chuối, khe nước... rất cổ điển song qua liên tưởng, qua những nhảy cóc của tư duy hay sự đập tan trong những liên tưởng vụn lại kết thành những cái khác lạ. Và như đã nói trên, cái vụn của Du An là cái vụn của sự rung ngân, kiểu như phàm đã thính tất nghe nhiều tạp âm, và lọc lại trong những tạp âm đó thì sẽ có sự hẫng, thiếu liên kết, rất vụn. Song ưu điểm, những thanh âm đã được chắt lọc rất đa dạng; có sự thanh, trong và gợi, mỏng mảnh, âm dồn, ùng oàng hay ri ri đều có cả. Ấy mới làm nên cái đa dạng trong mớ hỗn độn, và đó cũng lý giải cho cái sự vì sao liên tưởng vụn mà vẫn thấy hay, thấy đẹp thấy là thơ với nhiều lớp lang, thậm chí với ngay cả những câu đơn vẫn có sự phức hợp. Từ đặc điểm này, tính dục trong thơ Du An cũng không ngoại lệ, bởi đó là anh, là Du An hiện sinh, nên tính dục cũng được nói theo cách rất Du An. Người đọc không khó để tìm thấy những hình ảnh như này: Những cây chuối rừng mang trong mình khe suối/ chảy ngược vào đôi môi khát cháy/ những cây chuối tham gia giao thông/ cuộc hành quyết không ngoái lại/ bao nhiêu đùi con gái/ gào thét đứt phanh... những thân chuối trắng ban ngày không chịu bóc bẹ/ buổi trưa ấy hai mươi mốt tuổi/ buổi trưa này liệu có mai sau (Chuối rừng); hay như: Suối trôi dọc, em đi ngang/ và như thế chín bản trên về, mười núi theo khe ra may mắn/ sung sướng hợp lưu chật chội/ lách nhau đi va chạm lần lượt... mong suối chiều ngang dài hơn chiều dài/ nhưng suối sâu đến đâu váy em kéo đến đấy (Qua suối); và: những quả cà chua bị bắt quả tang nằm bên nhau hồng hào (Chợ đêm). Đôi khi lại là: Khát/ rễ bỏ qua cọc đi tìm trâu và bài ATM rõ nét hơn cả: Khe khẽ đút sự thật vào êm êm cuối tháng/ ATM nhớ ta vẫn thủ tục nghi ngờ... cuộc thanh toán nhấp nháy/ lập trình rồi cứ thế dắt nhau đi... se sắt vuông vuông/ òa ập đường chuyển khoản/ lúc em còn ngủ/ có nụ hôn bị ướt/ ATM anh vẫn màu vàng năm trước... nếu để kể ra thì còn nhiều, nhiều lắm... nhưng thế thì cũng đã là đủ. Còn những câu, những khổ khiến người đọc bật cười mà đau mà ngấm kiểu như Nhớ con lợn: Chục năm rồi máng cất đi kỉ niệm/ hôm nay con bị điểm 2/ bài văn tả con lợn có sừng, kêu zaza như siêu nhân /chục năm rồi lại nhớ con lợn. Hay như: không gặp được rái cá/ câu chuyện tiếp tục râm ran, tanh tanh/ nó bằng con bê, mồm ngoạm con cá trắm bằng bắp đùi...?/ ai cũng thấy và tranh nhau nói/ Rái cá không lên tiếng/ cứ mập mờ, xa xa/ chợt thương con mèo, con chó/ vừa meo meo gâu gâu đã ăn một cái đập (Rái cá).
Và nói gì đi nữa tôi vẫn giữ quan điểm, thơ Du An lạ với những liên tưởng vụn và hay. Dưng, bỗng nhớ lời của GS. Hoàng Ngọc Hiến dành cho Nguyễn Huy Thiệp khi nhà văn này mới xuất hiện trên văn đàn rằng: tôi không chúc bạn thuận buồm xuôi gió. Còn Du An, chắc anh cũng biết con đường thơ của mình chông gai thế nào!
H.C.T


Read More..

Thứ Năm, 9 tháng 5, 2013

Mường Phăng thích thú

(Thay lời anh bạn lần đầu đến Mường Phăng)


Tôi đến Điện Biên đã vài lần, nhưng chỉ là đi công tác, thời gian ngắn nên dù muốn cũng chỉ thăm thú chớp nhoáng những điểm di tích lịch sử ở trung tâm thành phố Điện Biên Phủ. Còn những điểm khác, nhất là Mường Phăng, Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ thì vẫn còn trong mơ.
Lần này, nhân đợt nghỉ 30/4, 1/5; tôi cùng anh bạn quyết định lên Điện Biên, đích đến cụ thể luôn là Mường Phăng. Từ thành phố Điện Biên Phủ, qua những cánh rừng mát mắt, những tràn ruộng bậc thang đường nét; những người Thái, Khơ Mú hồn nhiên… khiến cái máu nghệ sỹ của tôi được dịp trỗi dậy. Trước mắt; tôi sẽ có nhiều ảnh đẹp, hấp dẫn để về khoe với vợ con, bạn bè; và, sau này biết đâu những cốt, tứ của truyện, thơ sẽ tự nhiên nảy nở.
Đây rồi, đã đến “Rừng Đại tướng”! Rừng già, cổ thụ cao ngất, nắng sớm vừa nãy ngoài đường có vẻ hơi gắt mà vào đây chỉ còn ánh sáng mờ mờ nhẹ nhẹ. Dễ chịu vô cùng. Không khí mát mẻ bao trùm, có phần hơi lành lạnh như thời tiết ôn đới. Chúng tôi chầm chậm bước, có điều gì sâu lắng thiêng liêng trên tán lá tán lá rì rào, rừng cây dẫn dắt.
Đây, khu trung tâm Sở chỉ huy chiến dịch khiến cái tên Điện Biên Phủ trở thành một động từ quốc tế. Lán tranh, ghế cây rừng, hầm xuyên núi… thật đúng là chân đất mà làm nên lịch sử. Chúng tôi im lặng, ngẫm nghĩ, suy tưởng về những điều sách báo, tivi trong nước, quốc tế đã nói. Giờ tận mắt, tận làn da thấy những lán trại đơn sơ, vật dụng nhỏ bé của bộ đội ta… mới thấm thía tầm vóc to lớn của chiến thắng. “Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, cụm từ này, tôi nghe đã nhiều, thậm chí có lúc có khi như cảm giác sáo ngữ. Thì đây, tán rừng không nói, những âm thanh không lời cho một câu trả lời về tương quan lực lượng, về ý chí của cả dân tộc…
Tháng 5 là tháng Điện Biên Phủ. Ngoài phố các điểm di tích người đi quấn áo chen chân. Trong Mường Phăng đây, cũng nhộn nhịp núi rừng. Lối đi nhỏ nhỏ, người hàng một; đoàn lên, đoàn xuống nghiêng nghiêng tránh nhau; nụ cười, cả cái bắt tay như từ lâu thân thiết. Bạn tôi kể, trưa 1/5/2004, Mường Phăng bị tắc đường hơn 30 phút. Lúc đó, tôi không tin bởi non cùng rừng tận chứ đâu phải Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh… Nay thì tôi mong, bao nhiêu du khách đang lên xuống nói cười kia sẽ một lúc tụ lại như niềm vui chung một bó hoa.
Sẽ là rất thiếu nếu tôi kể về Mường Phăng mà toàn có núi rừng di tích. Những con người nơi đây thật chất phác, hấp dẫn. Đó là một cô gái Thái, hai chúng tôi gặp lúc trở về. Tại bìa rừng, chỗ trạm gác Sở chỉ huy, em chào chúng tôi và mời mua đồng bạc, mật ong. Trước đó, chúng tôi đã nghe những lời này nhiều… nào thuốc uống vào hết đau lưng, nào rượu ngâm chồng uống vợ khen, quả “sung sướng” ăn vào cả nhà vui… nên nghe em nói có phần không vào lắm. Nhưng phần vì mệt bởi cả chặng đường leo dốc, phần vì sắp phải xa Mường Phăng không biết bao giờ trở lại… nên có cuộc chuyện trò giữa chủ và khách. Em bảo nhà em ngay đây thôi, chồng làm ao cá, thỉnh thoảng đi bắt ong rừng; hai đứa con đi nhà trẻ, mẫu giáo; em dệt vải, thêu khăn, nắng ráo rỗi rãi thì lên hầm bán hàng. Em bảo mua cho em đồng bạc về đánh cảm, mật ong rừng Mường Phăng về uống tốt cho ăn uống, đường ruột. Em mời chúng tôi về nhà chơi với chồng, xem ao... và quả đồi hơn 2ha sau nhà định trồng trám hoặc cây ăn quả gì đó… Giọng nói, cách nói, từ ngữ, cử chỉ chả có gì là lơi lả chèo kéo; cứ hồn nhiên như nói chuyện với người bản mình khiến hai chúng tôi bị thuyết phục. Tôi mua hai đồng bạc và nói: “Anh chả cần biết đồng bạc này thật hay giả. Nhưng anh thích em hồn nhiên chân thật. Anh mua giúp, để kỷ niệm”. Em có vẻ ngại ngùng khi nhận tiền. Đã trưa trưa, anh bạn tôi mời em xuống “phố Mường Phăng” ăn cơm. Tôi không kịp “kéo áo” anh… Sao lại mời rơi, xã giao như thế! Tôi nghĩ chưa hết thì em đã bảo, em gọi cả chồng em nữa nhé. Em gọi điện, tiếng Thái, chúng tôi chỉ nghe bằng nét mặt, giọng nói. Rồi em, quay sang nói - Chồng em bảo em về nhà đã, rồi cùng đi.  Chúng tôi lấy số máy của nhau, hẹn tại quán; và giao ước, không được “lừa nhau” đâu nhá.
Tại quán… ở trung tâm xã Mường Phăng. Bàn ăn, các món đã xong xuôi; tôi bảo đợi, anh bạn bảo “thôi cứ chén đi, đi đường mời rơi mời rụng ai người ta đến”. Bạn tôi nói vậy, nhưng vẫn chiều tôi, cùng đợi. Mất mươi phút, chúng tôi ngắm măng đắng, cá nướng… thì vợ chồng em đến. Em rực rỡ - áo cóm, cúc bướm bạc, váy thướt tha (khác hẳn lúc nãy). Hai chúng tôi cảm động, ra tận đường bắt tay, mời vào.
Em rót rượu tự nhiên như ở nhà mình và giới thiệu chồng. Tôi giới thiệu mình và bạn. Nâng chén, cụng nhau “au hảnh”… câu chuyện cứ lên dần. Tôi và anh bạn thay nhau hỏi; về gia cảnh, về phong tục người Thái trên này… Anh chồng kể, hai đứa cùng hoàn cảnh nhà nghèo, không được học lên, hạnh phúc đến nhau là tự tay làm thôi. Em bảo, các anh biết Mường Phăng, biết vợ chồng em rồi, thì bao giờ lên nữa, “lấy” cả vợ con cùng thăm nhà, biết nhau tất cả.
Câu chuyện mỗi lúc càng đậm đà, chén rượu càng thêm ngọt ngào, bay bổng. Chúng tôi mời em hát, chồng em cũng động viên em cứ hát cho các bác nghe. Em nhìn trước nhìn sau như xấu hổ… rồi khe khẽ, rồi cao dần. Bài hát tiếng Thái như nói, như kể; tôi không hiểu lời nhưng thấy như có ruộng, có nương, nhà sàn, áo cóm thướt tha… Hai chúng tôi còn đang bay trong giai điệu thì em ngừng và “dịch”… Bài hát bảo, các anh đến thăm Mường Phăng, biết hầm Đại tướng; chúng em rất vui, chào đón; có gì không vừa ý các anh thì các anh đừng mang về nhà; các anh lên một lần thì lên nhiều lần nữa, bảo nhiều người, bạn bè, vợ con cùng lên…
Chợt em rót rượu phẳng đều các chén và trùng giọng nói: “Đồng bạc em bán cho các anh lúc nãy là không thật. Đồng thật thì đắt lắm, ít người mua”. Tôi sững người, một lúc mới nói: “… Nhưng tình cảm của vợ chồng em là thật”. Câu chuyện hết gợn ngay bởi tôi nói thẳng lại: “Bọn anh biết, nhưng vẫn mua vì thấy các em chân thật, vất vả. Thôi coi nó như một kỷ niệm, bọn anh chia sẻ với em”.
Câu chuyện có chậm chậm lên dốc một tí, rồi lại lướt lướt đầy men rượu, men người hồn hậu. Anh bạn tôi có điện thoại, tôi tủm tỉm cười khi anh khoe khéo, kiểu lợn cưới áo mới - Anh đang ở Mường Phăng, uống rượu với đôi vợ chồng người Thái, hay lắm. Dừng cuộc điện, nét mặt anh vẫn còn phấn chấn. Dường như Mường Phăng đã chinh phục anh hoàn toàn.
Tạm biệt Mường Phăng, đường về sao mà nhanh thế, dù chúng tôi đã cố đi chậm để khắc ghi những hình ảnh nơi đây mang về phố phường Hà Nội. Khi nghỉ tại một bóng cây ven đường, tôi hỏi bạn: “Anh thấy chuyến đi này thế nào?”. “Tuyệt vời, đầu nhẹ tênh tênh”. Tôi định nói với anh về năm trước, đến một bản văn hóa ven thành phố Điện Biên Phủ uống rượu. Cũng có các cô gái Thái nhưng uống rượu kiểu “mông cổ”, “khát vọng 1”, “khát vọng 2”; cũng có hát nhưng là … “Nếu không zô thì thôi đã zô rồi một trăm phần trăm”… thật quá thể. Tôi định vậy nhưng kìm lại được bởi anh và tôi đang có một Mường Phăng lan lan thích thú. Mường Phăng! Mường Phăng! Hẹn ngày trở lại mảnh đất lịch sử, hấp dẫn du khách bởi sự chân thật, mộc mạc, hồn nhiên.


Read More..

Thứ Năm, 18 tháng 4, 2013

Chúc mừng Hội VHNT tỉnh Điện Biên, hội viên Nguyễn Đức Lợi đạt giải nhì, cuộc thi truyện ngắn báo Văn Nghệ (Hội nhà văn Việt Nam) hai năm 2011 - 2012



Kết quả cuộc thi truyện ngắn
Tuần báo Văn nghệ 2011- 2013

Giải nhất: Chùm truyện ngắn của Lê Thanh Kỳ:
1-       Bạn khách
2 -        Sợi dây
3 -        Mồng Chín, tháng Tám

Giải nhì:
1-      Gia phả mùi rơm rạ - Thu Trân
2-      Ma núi rắn –  Nguyễn Đức Lợi
3-      Lá bùa bỉ ngạn hoa – Vũ Thị Thanh Huyền

Giải ba:
1-      Hồng trần – Chu Thị Minh Huệ
2-      Đêm dài qua –  Nguyễn Tiến Bình
3-      Chùm truyện: Thị; Chị Mỵ làng Minh Quang –  Văn Chinh
4-      Hàng xóm –  Chu Thùy Anh
5-      Phương Nam   Phùng Hy
6-      Người đàn bà ở bến xe thành Rôm –  Nguyễn Đăng An

Khuyến khích:
1-      Trong đám tang của mình –  Uông Triều
2-      Mười hai chiếc bánh flan –  Phạm Thanh Thúy
3-      Suối nguồn –  Phan Đình Minh
4-      Đất tụ long –  Nam Ninh
5-      Phật ngoài khơi xa – Nhụy Nguyên
6-      Người chợ Kệ  -  Dương Đức Khánh
7-      Bữa tiệc ly –  Lê Hoài Nam
8-      Seo Ly –  Chu Văn Nghiêm




Read More..

Thứ Hai, 8 tháng 4, 2013

Bài hát ngoài trời


Với một chàng trai  hát giữa trời nắng

Nắng, bụi, gió… khán giả
Những cái tai, đôi mắt vụt vèo
Ôi khổ quá, tội giời đày…
Câu cảm nhất cách 50 mét

Ớ ơ ờ ơ
Không có ai chuyển ngữ
Ế ê ề ê
Phải chăng khúc ru ngày cũ

Bao nhiêu bài hát chưa ra sân khấu này
Bao nhiêu điệu múa máu mủ
Bao nhiêu không người trong phòng trong tủ
Giai điệu ngoài kia đi tìm

Bài hát sẽ tan thành nước mắt
Chàng trai sẽ bốc hơi cho mình mát
Các nhà hàng, cơ quan, xí nghiệp… ơi
Mở cửa, ra cảm ơn người ta một câu.
08/4/2013





Read More..

Thứ Hai, 1 tháng 4, 2013

Xay xúm Mường Thanh sang Mỹ


Ông đã từng sang Mỹ, hẳn mười hai ngày ở Oa sinh tơn…bao nhiêu người Tây tròn mắt ngưỡng mộ, bao nhiêu nhà báo quốc tế hỏi chuyện… Ông chỉ là một người Thái Mường Thanh; chân đất, sang “bên kia quả đất” để làm những việc y như ở nhà - Đan xay (lờ), đan xúm (nơm)…


Những ngày ở Mỹ
Ông là Cà Văn Cu, 65 tuổi, ở bản Phiêng Quái (xã Noong Luống, huyện Điện Biên). Gặp ông, sau gần tiếng xuôi con đường bên dòng Nậm Rốm, qua những thửa ruộng, tràn ao, cánh rừng xanh mát; trong ngôi nhà sàn, mái lợp broxi măng còn mới, ông kể: “Đan xay (lờ) ở Mỹ nhiều người thích lắm. Họ quây vào người xem, lúc đầu cũng hồi hộp; gài, bắt mấy nan đầu tiên xong thì bình thường như ở nhà. Người ta nhìn như ăn tay mình. Đan xong họ nhao tay, đưa cả trăm đô đòi mua; nhưng ban tổ chức không cho bán, tất cả đồ làm ra phải đem về bảo tàng lưu giữ”.
Ông Cu là một trong 40 nghệ nhân Việt Nam sang Mỹ tham gia Chương trình Mê Kông dòng sông kết nối các nền văn hóa, tại Lễ hội đời sống dân gian Smithsonian, tại Washington - Hoa Kỳ từ 27/6 đến 8/7/2007. Đối tượng được mời hẳn nhiên là cư dân sông Mê Kông - Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Mianmar, Cam Pu Chia, Việt Nam… Ngoài văn nghệ dân gian phụ trợ thì nội dung chính của lễ hội là - Các nghệ nhân ở mọi miền sông Mê Kông trình diễn cách làm dụng cụ đánh bắt thủy sản. Cùng uống chung dòng nước Mê Kông; cùng là bắt cá, bắt lươn, ba ba… mà mỗi nước, ngay cả nước mình cũng khác nhau. Người Thái Lan, Cam Pu Chia, người Nam Bộ mình đan cái chài to; cái lờ cũng gấp bốn, năm lần so với Điện Biên; cái hom, kiểu đan cũng khác... “Băn khoăn hỏi họ; họ bảo, sông rộng như biển thì cái bắt cá phải to thôi”. Ông Cu nói và lại gác bếp lấy cái lờ ra như để so sánh. Đó là chiếc lờ hai hom, kiểu nan bắt chéo, toàn bộ sản phẩm không thấy một vết nối; dù nhìn, sờ rất kĩ. Nếu đan phần thân riêng, hom riêng, rồi lắp vào như họ thì dễ nhưng như thế độ chắc chắn, cả đẹp nữa sẽ kém. Mấy ông Nam Bộ rất thích kiểu đan Điện Biên, họ bảo muốn học kiểu khó, cá xuôi cá ngược đều bắt được. Thời gian ngắn quá, tôi dạy một lúc, chắc họ về nhà cũng chưa làm được.
Trình diễn tại lễ hội ba ngày, ông Cu cùng các nghệ nhân được đi thăm một số nơi trên nước Mỹ. Thấy nhiều nhà chọc trời, nhiều cảnh đẹp, nhiều rừng nhưng ông  chỉ để ý đến con cá, con thú… xem người ta đối xử với chúng như thế nào? Ông hỏi chuyện người dân (qua phiên dịch) thì thấy họ rất quan tâm, tự giác giữ gìn môi trường, chỉ đánh bắt (mà cũng rất hạn chế) bằng dụng cụ thủ công. Súng, mìn, sung điện… tóm lại những loại giết con vật, ai sử dụng sẽ bị pháp luật xử rất nặng.    
Tri kỷ với ruộng Mường Thanh, sông Nậm Rốm
          Ông Cu sang Mỹ là đại diện cho khu vực đầu nguồn Mê Kông (sông Nậm Rốm vào dòng Mê Kông ở Pắc U - Lào). Theo thước đo thành tích, xuất chúng như các cuộc hội thảo quốc tế… thì ông không có gì. Ông chỉ biết ruộng sông ở trong mường bản. Vì cuộc sống gắn bó nên trọn đời tri kỷ với dòng sông đất Mường Trời.
                  

Tuổi thơ của ông ở bản Kha Chít (xã Thanh Minh), lớn lên, đi ở rể rồi sinh cơ lập nghiệp tại Phiêng Quái (Noong Luống) cho đến nay. Như bao đứa trẻ người Thái Mường Thanh khác trong tập quán “Ở theo suối, ăn theo nước”; cậu bé Cu theo cha, rồi dần dần cũng tự bắt được con lươn, con cá; từ ruộng, suối gần nhà đến ra dòng Nậm Rốm. Nậm Rốm thời ấy rộng và sâu lắm, đôi bờ rừng cây um tùm rậm rạp; ban ngày cũng đầy bìm bịp đuổi nhau. Dòng sông là cả một “kho thức ăn sống”. Nào chép, trê, trạch, cá quả; nào lươn, ba ba to tướng, lâu lâu gặp người còn lồi mắt lên chào! Người hồi đó một phần ít, phần nhiều là biết yêu sông yêu cá. Đánh bắt thì cũng xay (lờ), xúm (nơm) nhưng vừa đủ ăn thôi. Con to mới lấy, ăn vừa một hai bữa, con bé thả về sông nuôi cho lớn. Người không tham, không ác; sông hiền lành, cá tôm phởn phơ; cả hai thành bạn bè yêu nhau như vợ chồng con cái.
Nhìn cha làm, rồi cha dạy; năm 15 tuổi, anh Cu đã thành thạo các loại dụng cụ bắt cá. Việc đan cũng lắm công phu, giai đoạn. Đầu tiên lên rừng chọn cây sặt bánh tẻ, đem về chẻ ngay rồi cho lên gác bếp lấy khói chống mọt. Rồi sau đó, những hôm trời mưa, rỗi rãi… lấy ra đan. Đan chả ai tính theo công theo buổi nhưng nếu làm liên tục thì hai ngày xong một cái xay (lờ). Còn đan xay moi (rọ) thì nhanh hơn, bởi dụng cụ này nhỏ, chỉ có một hom, kiểu đan cũng đơn giản.
Đan lát và bắt cá, lươn; ông Cu đều giỏi. Hỏi mấy thanh niên bản Phiêng Quái, chuyện ông Cu bắt lươn, cậu nào cũng lè lưỡi… chịu ông ấy, tay như có thần có ma. Cũng dùng rọ, chập tối cho mồi cua đập chết, rồi đặt ven ao, ruộng mà sáng ra lấy; bao giờ rọ ông Cu cũng nhiều nhất.
Ông Cu bảo, từ năm 2000 trở về trước lươn nhiều, rọ nào cũng được, có rọ ba, bốn con. Người Thái Noong Luống, Sam Mứn, Thanh Yên còn nhớ… dạo ấy các nhà nuôi cá bột chả hiểu làm sao cứ bị mất dần mất mòn. Ông Cu biết chuyện liền bảo – Thằng lươn nó ăn đấy, để tôi có cách.  Ông đến, mỗi ao đặt hai, ba rọ…, có hai đêm, lươn chúa 3 - 4 lạng/con cũng phải qui hàng. Không những giỏi bắt bằng rọ, ông Cu còn tay không tóm lươn. Nghe chuyện bắt lươn bằng tay cũng nhiều, được dịp tôi muốn tận mắt. Ông vui vẻ xuống bờ ruộng. Ông dạy cách phân biệt hang lươn và hang cua. Hang cua cứng, hang lươn mềm; nếu thọc tay vào hang mà có cảm giác mút thì đích thị  họ nhà trơn rồi. Gặp lươn lập tức dùng ngón trỏ kẹp, chỗ cách đầu nó độ mươi phân. Con to thì làm như thế, còn loại nhỏ, chỉ cần lấy ngón cái bấm là nó phải ngoan ngoãn theo tay mình vào giỏ.
Khi hỏi về cá tôm sông suối Điện Biên bây giờ, ông Cu buồn rầu nói: “Còn ít lắm, có khi sắp hết sạch rồi. Tại dùng thuốc trừ sâu bừa bãi. Tại sung điện giết cả trứng…”. Mấy năm nay, ông cũng không đan cái lờ, cái nơm nào vì sông sắp cạn, suối sắp khô. Ông chỉ mong những kẻ giết cá, động vật hoang dã bị phạt thật nặng. Tôi chỉ biết chia sẻ cùng ông; rằng… những đồ đan lát của bác có thể làm quà lưu niệm du lịch; rằng… sẽ có lúc người với sông suối cá tôm lại trở về chung sống như xưa. Ông ngồi thừ, đôi mắt như mơ. 
Read More..

Thứ Bảy, 30 tháng 3, 2013

Ru mẹ



Con ru đôi mắt mẹ cười
Bàn tay tìm đến à ơi hiên nhà
Mẹ không dặn mẹ đi xa
Rau cần quải vội nở hoa mất rồi.

Giếng khơi con múc bầu trời
Gặp con sâu róm đang bơi đòi về
Chuồn ngô chơi ở bờ đê
Gặp roi nhựa mít xoắn tê cánh buồn
Chuồn kim nghịch nước bờ mương
Gặp ông đánh dậm hết đường lon ton.

Mẹ về câu chữ vàng son
Chẳng bằng vàng nắng vại tương đứng vườn
                   Xanh gì xanh cỏ ngọn nguồn
Chẳng bằng xanh tiếng… Mẹ thương chúng mày!

Lá trầu im ắng vị cay
Bức tường xòe những bàn tay cuối cùng
Rau bợ rau rớn ngủ chung
Có mê thì nhớ là không đái dầm.

Chỉ đen khâu nốt bóng râm
Cây kim đuổi nắng bổng trầm vào con
Xin trời hoãn lại hoàng hôn
Còn đám rau má chưa khôn bụi bờ.

Lời ru nào có chọn giờ
Hay đâu Gò Nhãn bất ngờ à ơi
Tiếng mây tiếng gió mất rồi
Tiếng con tròn méo vành nôi xoay tròn.

Con ru thành mẹ ru con
Yêu thương nhung nhớ đầu non mẹ cười.

Read More..

Thứ Năm, 28 tháng 3, 2013

Chùm truyện ngắn "Từ lâu không nói"




VanVN.Net – Có một chút văn học trò, chuyện cô giáo Cúc ở bản vắng muộn chồng với người khách dưới phố dan díu bị lỡ, cô phải đi vắng mấy ngày đã không được kể rõ; nhưng chất văn lại chính ở chỗ không nói rõ ra. Truyện Cô Quỳnh cũng vậy, chồng cô đã chết trận, những khát khao làm vợ làm mẹ cứ  bị lẩn đi sau những hờn ghen với số phận của bà mẹ chồng, hờn ghen gay gắt nhưng xa xót. Đến truyện Chị làm gì thì thủ pháp nghệ thuật mới thật chín ở cây bút trẻ này. Chị làm văn thư, suốt mấy mươi năm viết báo cáo cơ quan mà không có bản thảo của sep, các báo cáo hoành tráng cứ từ trong óc chị mà tuôn chảy ào ạt, như một...thói quen; rút cục tôi vẫn không biết chị làm gì và những cái chị làm ra để làm gì trong khi mọi người đều biết nó vô nghĩa lý? Văn Du An cứ man mác những ký ức buồn như thế, nó làm nên cái duyên của truyện, nó cũng làm nên giọng điệu anh.
-----------

TỪ LÂU KHÔNG NÓI

Mưa. Lúc đầu tưởng to, nhưng chưa ướt hết cái sào nứa lại tạnh. Trời vẫn xầm xì, phía Bản Tọ từng khối mây đen như khói cháy rừng đang cuộn lên, đuổi nhau về Pú Luông. Có lẽ vừa nãy là khúc dạo, tí nữa mới là thật. Trời ập tối, Hào rùng mình một cái vào phòng khoác áo. Lạnh, sao thế nhỉ? Tháng sau mới lập đông cơ mà!
- Sang đây tớ bảo cái này.
Hào ngồi im trong bóng tối. Có tiếng dội nước, tiếng cái lược quăng xuống bàn.
- Đi. Không nghe thấy à? Sang đi.
Hào vẫn ngồi im, quay lưng ra ngoài, mắt chăm chăm vào phía cửa sổ nhờ nhờ sáng tối. Lâu lắm rồi, nó không được mở.  Mở ra là lớp học, học sinh, âm thanh của hai bên vào nhau. Trò, thầy có khoảng cách; hai mảnh ván dổi găng, mắt không thấy thì chắc tai cũng nhẹ đi. Một điều nữa, vô hình… Hồi mới về trường, mỗi khi đẩy hai cánh ra Hào lại có cảm giác của người cởi truồng. Cánh giáo viên có gia đình lấy phòng Hào làm chỗ cởi bỏ mô phạm. Nước chè, cười nói, tỉa nhau… Chủ đề hay bị lặp, để rồi ngặt nghẽo cười tung bụi phấn là chuyện… ấy ấy, mai thao giảng không được. Hào quê chè, pha rót như dân trà đạo; nhưng chuyện ấy thì chỉ như học sinh.
- Ơ cái ông này, ngồi đây mà điếc hả. Khiếp… như con ma ấy.
Cúc nói và tiến sát mặt Hào, rồi xoay lưng lại… Em chưa buộc dây. Buộc hộ tí nào... đi!  Em chỉ biết buộc lạt, cái này chịu. Hào nói, nhưng vẫn cầm hai đầu dây, tay run run. Đầu Cúc vừa chạm cằm Hào. Tóc xấu quá, đuôi xơ, ngọn chẻ. Dưới ánh điện nó vẫn không sáng lên được. Khổ! Không chăm bón tưới thì làm sao mà xanh tốt được. Hào định ghé môi thơm vào mái tóc ấy xem sao thì… Bạc! Tóc em bạc rồi! Hào kêu lên như gặp quỉ sứ. Tiếng kêu dồn hết cả vào đôi tay bên dưới. Thít, thít thật chặt.
Cứ làm như bó nứa, bó củi ấy? Chưa sờ con gái bao giờ à? Cúc cười phá lên. Kiểu cười như xoà ra hết cả tim gan. Hào thở phào, bao giờ cũng vậy cứ cười như thế này là tốt lành, thoát một trận ba máu sáu cơn. 
Hào nhớ hôm mang quyết định về trường, ông Thảnh phân phòng, Hào nhận xong, sang chào Cúc, kiểu như ma mới trình ma cũ. Cúc đang ngồi dạng háng tay cầm búa và cái dép cao gót. Hào chào, Cúc nhìn từ đầu xuống chân, từ chân lên đầu rồi hỏi “Văn Trường hai à? Sinh bảy mấy đấy?”. “Em sinh năm bảy sáu… Chị về đây lâu chưa?”. “Ô! Bảy sáu, kém tao xa, bắt nạt được đây”. Cúc cười, ngồi phệt luôn xuống đất. Hào vẫn còn gê gê tiếng cười, đôi môi chỗ trắng, chỗ đỏ. Cảm giác ấy nhưng Hào vẫn ngồi xuống, cầm búa. Cái dép phải, đầu quai đã mục, đinh đóng vào chỉ mớm được một tí, trẹo chân là lại đi tong. “Được đấy! Có vẻ đàn ông đấy”. Cúc xỏ chân, đi mấy bước, đầu ngoái trái, ngoái phải... Giá có con mắt đằng gáy thì tốt. Cái quần côn chật, phồng hết cả những thứ không nên. Hào ngại và xin phép về phòng dọn dẹp, sắp xếp. Cúc theo sang, thấy một đống sách trên giường bảo “Hi vọng là không phải như nhà sư gối đầu”. Hào chỉ vào đống sách “Em lên đây chỉ có ngần này và…”. Hào móc túi, hai tờ 50 nghìn, một tờ 100 xòe ra.  Cúc bảo cứ ăn với tao, tiếp theo thích thì nữa, không thì bếp ai khói nấy. Rồi Cúc giảng giải: Phòng chúng ta là phòng khép kín, nấu nướng, ngủ nghê, tắm táp… tất trong ngần này. Mày đàn ông chắc xuống suối thôi. Tắm suối bao giờ chưa? Dưới xuôi làm gì có… Mê đấy. Toàn con gái Thái mười tám, trắng như chuối tía bóc bẹ.
Hào ăn với Cúc được hai tuần thì kết thúc. Hào thích nấu nướng, dọn rửa chẳng nề hà. Cúc vô tư, ruột gan trắng phớ. Tại ai? Hôm qua, dọn cơm ra thì có khách. Hai người đã bưng bát lên rồi, ông khách lò dò từ chân dốc lên. Hào ý tứ về phòng. Bên vách âm thanh thông thống… Tưởng không lên nữa. Không lên để mốc ra à! Trên này nhiều nắng gió, thơm cả ngày. Thật hay phét đấy, xem nào… Tiếng thở, tiếng chụt. Ôi… có mùi da trâu, thôi có lính mới rồi đấy, không ở hẳn đây là mất. Mất thì hôm nay cho hết sạch. Ái ái ái ái… Thôi đùa tí thôi, đàn em ý mà.
Bữa ấy là bữa chia tay. Hào ăn một mình, suốt đêm một mình. Trưa hôm sau, thấy tiếng mở cửa, Hào hỏi với sang. Cúc nói tiện xe, ra thị xã đến nhà bà đồng hương gửi ít quà về quê. Hào bảo thế mà chả biết nhờ mua mấy cuốn sách, nghe đài nóiNỗi buồn chiến tranh ra rồi. Mùa quá! Ai mang lên đây, bán cho mấy ông đi nương à. Thôi được, thích thì lần này ông Bắc về tao lệnh cho.
Hào đã quen dần với việc ăn một mình. Sáng 6h dậy, đun hai phích nước; trưa 11h nổi lửa, nồi cơm xong tức là xong – Mấy con cá khô nướng mươi phút là chén liền. Bên kia, bếp Cúc xèo xèo, rồi một lúc cũng lách cách mâm bát. Rồi chuyện với sang nhau. Chuyện cái váy, đôi dép, tao để kiểu tóc này được không… Hào bảo bà đẹp nhất bản rồi còn gì. Cúc bảo chị Lụa hai con học cấp II vẫn như gái mười tám. Cúc hỏi mày có lấy vợ ở đây không. Hào đáp em chưa biết, một thời gian chuyên môn cứng cứng lên đã, mấy lại còn phải có duyên. Cúc chạy sang – Cho mày miếng giò. Hào hỏi kiếm ở đâu ra… lúc này em chỉ thèm rau thôi. Cúc bảo tối nay sang bản với tao.
Tối, Hào ăn cơm xong từ lâu mà bên phòng Cúc vẫn còn tiếng dội nước. Hào bảo người có bốn mươi cân mà tắm gì lâu thế, làm như xuống phố không bằng. Nhưng mà nhiều hủm hố… Tại mày thanh niên tình nguyện hai can nước trưa nay đấy. Mười lăm phút đợi nữa thì Cúc ra. Ngực, vai lấm tấm ướt, mái tóc mỏng dính, bóng bóng.
Sang bản, Hào đã đi mấy lần thăm học sinh nghỉ học nhưng đây là lần đầu tiên, đi đêm. Đèn pin loang loáng, thỉnh thoảng một con sóc vụt qua; khoảng rừng phía trước thăm thẳm rồi lại thăm thẳm. Cúc hỏi mày đã bao giờ dắt tay người yêu trong đêm chưa. Hào bảo chưa, nhưng một lần, năm lớp 11, lớp bị mất trộm tiền, cô giáo giữ lại điều tra. Xe bạn gái bị sang vành, em đèo. Đi được nửa đường, xe em cũng nổ lốp, thế là hai đứa bên nhau. Em đã tỏ tình lúc một con rắn trườn qua đường. Thế hai đứa có lấy nhau không? Cúc hỏi và Hào cười phá lên… Cô giáo cũng có lúc học trò lớp 1 thế này đây. Sắp đến bản, Hào nhận ra đang xuống dốc. Đường bé tẹo, người vuông góc với những mảnh đá nhô ra. Tự lúc nào Cúc đã nắm tay Hào. Hào thấy âm ấm, bồng bềnh, tưởng tượng ra cái motip trai gái ôm nhau lăn tròn, lăn tròn, xuống chân dốc thì chậm lại... Hào lấy ngón tay cái rờ rờ bàn tay Cúc. Sao xương xương thế này? Sao lại nhăn nheo nhỉ? Mọi hôm, mỗi khi nghe tiếng dội nước tắm mình thấy bờ vai, đôi tay mềm mại mát mẻ cơ mà. Bất giác Hào ngồi xuống. Cúc rủ người xuống đùi Hào. Hơi nóng đường rừng, hương con gái phe phất. Hào đưa tay vuốt má Cúc. Tay Cúc đã vít đầu Hào xuống. Khoảng cách đôi môi chỉ tính bằng chớp mắt. Em buồn lắm, hay chúng mình không xuống bản nữa, tiếng em ngoằn ngoèo trong tiếng thở xốc lên. Tỏi! Tỏi! Hào hét lên và buông tay ra. Cúc lăn tự do. Hào cuống cuống tìm đèn pin. Đèn pin rời tay từ lúc nào, chĩa sáng xuống vùng thăm thẳm.
Hai người đến bản lúc tất cả đã đi ngủ. Hào cố nhớ một câu tiếng Thái gọi cứu nhưng không tài nào bật ra được. Trên vai, Cúc bám cổ nghẹt thở, Hào không dám gỡ tay, dù chỉ một chút cho dễ chịu. Hào đánh liều gõ cửa một nhà, không có tiếng đáp. Rồi cánh cửa ào bật, Hào và Cúc mất đà ngã vào trong.
- Bị chó sói à?
- Ngã à?
Đèn pin soi, đèn dầu thắp lên. Người nâng cả hai dậy, người đốt lửa, người chạy lên rừng lấy lá thuốc.
Hào bế Cúc đặt dựa vào cột nhà. Cúc ngọeo cổ, bếp lửa đã cao ngọn, hắt ánh rần rật trên khuôn mặt méo mó. Hào chẳng biết làm gì, lấy nồi, đổ nước xong để đấy, ngồi xổm bên Cúc. Cúc mở mắt rồi lại nhắm nghiền. Nhỡ Cúc chết… ý nghĩ loé đến, tay Hào đặt lên ngực Cúc.
- Cho nó uống thuốc này.
Hào bỏ tay ra. Cảm giác một tên trộm bị bắt quả tang cùng lúc ba người mang thuốc đến. Ông già nắn chân tay, bà già vuốt mái tóc, lấy bát thuốc từ tay thằng bé. Không gãy xương đâu, may rồi, về chăm nó mấy hôm, hết đau là khỏi. Ông già nói tiếng phổ thông rất rõ ràng.
Sáng hôm sau, lúc Hào còn đang trong chăn thì có tiếng léo nhéo dưới sân… Gọi đi, cô Cúc ở phòng này. Cô đau làm sao mà dậy được. Hay là mang lên lớp, trưa xuống… Hào mở cửa. Một đứa má bầu bầu nói: Thầy giáo. Em cho cô Cúc trứng. Hai đứa kia cũng mở túi thổ cẩm, đứa nắm xôi, đứa mấy cây rau. Hào đưa cả hai tay nhận, lấy chân đẩy cửa phòng Cúc. Lũ trẻ ùa vào, ngồi bên Cúc, chả đứa nào nói gì.
Làm chồng được đấy! Hào giật bắn mình. Cánh giáo viên đứng chật trong phòng, tóm gọn Hào đang bón xôi cho Cúc. Nắm xôi trò vừa cho. Hào đứng lên mặt đỏ bừng. Chị Lụa ngồi xuống giường, luồn tay xuống chăn sờ nắn, Cúc rên khe khẽ. Hào chạy về phòng lấy cái phích, bộ trà.
Đêm hôm rủ nhau đi thăm trò, trời bắt ngã một cái hay thật, tiếng Thỏa. Rồi bất ngờ, tất cả đồng thanh… anh ạ… anh ạ… Trời đất, chúng nó bỏ học thì cứ bảo tôi, tôi nói với trưởng bản là xong hết. Thôi cho nghỉ hết tuần, tí nữa hội ý Ban giám hiệu điều chỉnh chủ nhiệm, giảng dạy. Tất cả im phắc nghe ông Thảnh như trong họp hội đồng.
Hào cầm ấm trà sang thì vừa lúc ông Thảnh bước qua bậu cửa. Ông Thảnh vỗ vai Hào: Này, cơm nước chăm sóc giúp Cúc nhé. Có hai cậu tập thể với nhau. Hào vâng, ông Thảnh cắp cặp đi lên dốc vừa lúc trống vào lớp.
Chăm Cúc thật khó. Khoản ăn uống, thuốc men Hào quen rồi. Hồi mẹ ung thư giai đoạn cuối, Hào như con gái… Bón cháo, vắt nước quít,  tắm rửa, thay quần áo cho mẹ. Mẹ chẳng đòi hỏi gì, chỉ đôi mắt rồi thỉnh thoảng cả khuôn mặt vụt lên cười. Nhưng Cúc thì làm sao ấy. Vừa bón cháo xong, chuyện trò khoẻ khoắn, thấy mọi người đến lại rên. Hỏi muốn gì lắc đầu. Thỏa đặt tay lên chăn đã nhăn mặt… Thỏa cười đứng lên ghé tai Hào: Làm nũng đấy, au **luôn đi. Chị Lụa cũng cười cười: Thoát làm sao được, xem cái kiểu chăm người ốm khéo thế này có khi nghỉ hè dắt nhau về quê báo cáo.
Cúc mới tập tễnh đi được thì một cái ngắt đánh sập. Ông khách hồi tháng hai đến. Anh Bắc phải không nhỉ! Cúc ốm mong anh lắm, Hào vẫn nhớ cái tay buôn da trâu, thì mới hơn hai tháng trước chứ đâu xa. Mấy câu đưa Hào thoát đi ra, giả chỗ cho ông khách quí.
Hào xuống nhà Ren, thấy ông già cứ nhìn mình. Ren hỏi Hào về Cúc, rồi bảo: Chú kết nó thì anh không ngăn nhưng xem lại cái đám da trâu kia đi, dứt điểm một mối. Hào cười: Vừa phải bật ra đây. Vợ Ren về, mời Hào ở lại ăn cơm, Hào chối, chuyện mấy câu rồi chào về luôn. Ông già đứng dậy nắm tay Hào hỏi: Vợ anh khoẻ chưa? Hào tròn mắt. Ông già lại tiếp… Hôm anh cõng cô về luôn đêm, lo quá mà không đi theo... Hiểu, Hào định nói thì thấy Bắc từ trên dốc xuống, đi sau là Cúc. Vừa lúc nãy còn tập tễnh, Hào phải ôm eo dìu đi cơ mà. Cúc đang đứng trước, hình như là khóc.
Chiếc xe tải đã khuất hẳn sau dãy Pú Luông, làn khói loãng tệch cũng hết chỉ còn bụi đường chầm chậm. Hào định rẽ liều vào một nhà nhưng có tiếng như ra lệnh: Đi đâu, bạn bè định bỏ nhau lúc này à. Không thấy người, hình như là từ trong cái nhà bên đường phát ra. Hào chạy xuống như vô thức, đỡ lấy cái thân hình đang xiêu vẹo của Cúc.
Vừa tối, trời mưa lâm thâm, thấy ren rét. Hào khoá cửa phòng, cầm đèn pin ra. Cúc mặc cái váy hôm nọ ngồi ở bậu cửa. Hào nói trống không: Xuống khu gia đình chơi tí. Cúc đứng dậy: Đừng đi, tối nào cũng đi, mưa thế này ốm đấy, một người ốm là đủ rồi... Mai không có tiết ở nhà làm cái gì… Hào nói nhưng thoáng chần chừ. Cái váy, đôi mắt da diết kiểu gì là lạ như cầu cứu, như van xin. Mưa mỗi lúc một nặng hạt, trời tối hẳn, Hào dọi đèn pin thẳng vào mặt Cúc. Cúc nheo mắt, che tay, mở ra rồi lại che như chống chọi. Hào hai tay nắm đèn pin đi lùi trong luồng ánh sáng yểm trợ. Chao ôi… sao giống như bộ đội cầm khẩu AK nhả đạn rút lui bảo toàn lực lượng. ý nghĩ chợt đến khiến Hào muốn quay lại đỡ cái thân hình bé nhỏ kia hoặc chí ít cũng động viên một câu. Nhưng, Hào xuống chân dốc rồi. Tắt đèn, đi như chạy. Luồng gió tự tạo táp vào mặt Hào rát rạt. ào ạt, ào ạt hình ảnh Cúc.
Trưa hôm sau, Hào mới về phòng. Phòng Cúc khoá cửa.
Sáng hôm sau, cánh giáo viên lại “phòng chờ” ở phòng Hào. Thoả hỏi Hào: Cái Cúc nó đi đâu ấy nhỉ? Chị Lụa bảo: Nó đi thị xã, xin phép ông Thảnh rồi. Ren nhìn Hào: Thế nó đi không bảo chú à? Hào im lặng, rót trà vàng sánh vào chén mọi người.
Trưa hôm sau nữa, Cúc về. Hào nghe tiếng lạch xạch mở khoá nhưng im trong chăn, ngủ không nghe thấy. Một lát sau, có tiếng chị Lụa: Mệt lắm không em. Đừng làm việc gì nặng nhé, nước bảo thằng Hào nó thồ cho… à mà này, bữa nào cũng phải ăn rau ngót đấy. Lên lớp chị sẽ mang luôn cho.
Hào dậy, ngồi rửa mặt ở hè, lờ mờ câu chuyện. Chị Lụa sang vỗ vai: Cúc nó ốm đấy. Khoản nước, chú chịu khó thồ cho nó nhé.
Hết tiết, Hào xuống mó nước, lúc về vào nhà chị Lụa. Chị đang cắt rau ngót ngoài vườn. Vườn rau nhà chị thích thật, bắp cải, xu hào… mỡ màng, Hào chầm chậm ngắm, thích thú như khách du lịch. Đến luống tỏi, Hào ngồi xuống và nói: Em nhổ mấy cây về cho Cúc nhé. ốm bao giờ Cúc cũng ăn tỏi. Chị Lụa bảo: Ừ, tỏi vừa ngon vừa nhiều kháng sinh. Hào cầm ba cây tỏi, lên xe, hai can nước nặng, tay lái chệnh choạng. Chị Lụa giữ xe, nói như nói một mình: Giá chú về trường sớm hơn… à mà còn ai nữa đâu mà chả gật. Khó thế.
Hào gò lưng đạp xe lên dốc. Đến phòng, Hào và xe ngã quay đơ dưới hè, cái nặng mệt bây giờ mới ngấm. Cúc từ trong ra, định đỡ thì Hào đã dựng xe, cởi can nước.
Buổi trưa, trường vắng tanh. Hào thoáng ngại. Bố Hào hôm cho Hào đi Pú Luông đã dặn “Con phải tỉnh táo trong mọi trường hợp”. Hào vẫn tỉnh táo, … cái tay, đôi vai, ngồi không muốn đứng lên...  Tự Hào đang xoa đi những ê ẩm.
Điện Biên, 08/ 12/ 2009
------------
* Au: Làm (Tiếng Thái)

CHỊ LÀM GÌ

- Chị làm gì?
- Chẳng biết.
- Chị gõ nhiều chữ thế?
- Công việc mà…Sao em hỏi chị lạ vậy?
- Tại hôm nay… em thấy chị lạ.
- Thế à?
Góc làm việc của chị và Công là khoảng ba mét vuông cuối căn phòng dài. Bên ngoài có bàn trà nước, một cây chổi lau nhà, hai cái chổi rễ, hai cái hót rác nhựa màu đỏ. Chị đến sớm pha trà xong vào chỗ mình luôn. Trong lúc đợi máy khởi động hết, chị quét chỗ mình, cả căn phòng. Đất, bụi, giấy hỏng chẳng có; nhưng hôm nào cũng được hơn hai chục đầu mẩu thuốc lá Du Lịch. Cả phòng còn mỗi Công hút thuốc. Một lần Công hỏi: “Sao em hút chị không nhăn mặt, kêu la?”. Chị bảo chị tôn trọng sở thích của người khác. Chị hay nghe Công chuyện, khi Công có cục tức nào lại xả cho chị.
Chị vẫn ngồi lách cách bàn phím. Công đối diện, thấy khuôn mặt chị mờ nhòa tự nhiên hỏi:
- Chị thích nhất loại báo cáo nào?
- Loại nào cũng thích.
- Có bao giờ chị chán làm báo cáo chưa?
- Chán làm sao được.
- Chị làm bao nhiêu năm rồi?
- Chị chẳng nhớ.
- Em mãi không qua được đoạn mở đầu. Chị sang hộ em.
Chị sang, Công bẻ cái ghế Xuân Hòa ra ngồi cạnh. Lách cách lách cách, lào rào lào rào.
- Chú định nửa trang hay một trang?
- Tùy chị.
- Thế thì một trang nhé. Không thì anh Mờ bắt làm lại.
- Sao chị biết?
- Chị không biết.
Công đọc, rồi quay sang chị hỏi:
- Chị làm văn à?
- Văn! Chị chẳng biết thế nào là văn, em lại bảo chị làm văn.
- ... Văn như... như cái diều ngửa cổ nhìn lên ý. Công ngừng một lát, may tìm được lời giải thích.
- Em thấy văn của chị thế nào? Có vẻ chị đã chịu mình là làm văn.
- Nhân vật tập thể, hành động nhiều; ít tính từ; nói chung là phong cách lãng mạn.
Nói xong cụm từ cuối cùng, Công lắc đầu, sợ chị không hiểu. Nhưng chị đã cắt chủ đề:
- Chị cám ơn em. Em tài thật.
Công bắt tay chị, thấy trơn trơn. Không hiểu sao nhìn thì toàn gân, mạch máu nổi lên mà nắm vào giống lươn. Hay là gõ bàn phím nhiều? Không phải, bàn phím từng ô vuông quân cờ... A, S, D, F, G... giữa chữ có khe đầy bụi, lúc gõ tung lên.  Công không nghĩ bàn tay nữa, chuyển lên mặt chị. Chị bảo mình bốn mươi, sao đôi môi mọng thế. Chị bảo con chị lớp 12 rồi, sao đôi má vẫn hồng. Gần chị, Công muốn nói chuyện, cảm giác giới tính bị đè xuống ngay. Công hay bộc bạch tâm can mình, xin ý kiến chị. Chị vẫn lách cách lạch sạch bàn phím, trả lời. Hàng tiếng đồng hồ, linh tinh lang tang chuyện. Chị không nghĩ vẫn làm được? Có lần chị ra ngoài, Công sang máy chị kiểm tra. Công tác.... Mặt được... Nguyên nhân... Biện pháp khắc phục... Chữ câu hàng hàng trong sáng, chặt chẽ. Không có biểu hiện gì là... nói chuyện riêng. Bà ngoại Công trước là nhân viên đánh máy, những tháng cuối năm bà vẫn hay mang việc về nhà. Bà nói chuyện đàn gà, con lợn, nhà Tính, nhà Tình... mà tay vẫn múa. Khi đứa cháu cuối cùng ngáp ngủ thì bà cũng xong tệp cuối. Hỏi bà sao không nhìn mà đánh được chữ. Bà bảo bà liếc.
Bà Công liếc một, nhớ mười. Nhưng chị có cái gì mà liếc. Tất cả chữ ở trong đầu truyền xuống tay, chìm bàn phím; hàng hàng, đoạn đoạn, non buổi sáng đã được cái báo cáo một năm. Hai ngày được báo cáo ba năm. Bốn ngày được cả nhiệm kì. Thật kì lạ. Công hỏi chị:
- Chị có bí quyết gì không?
- Chị chẳng biết.
- Chị dạy em làm nhé. Sau này đỡ phải nhờ, khổ chị.
- Việc gì phải học. Văn của triệu người, đầy trời như sao.
- Chị nói hay thế. Hôm nay thì nhận rồi nhé. Chị phải là anh hùng.
Chị cười, hai má đỏ. Chợt, đuôi mắt những nếp nhăn xô nhau. Tại sao mình lại làm chị cười nhỉ? Công như ân hận. Công bảo có hai loại văn: Văn em thầm lặng một mình, văn chị chỗ vỗ tay.
- Vậy ra chị em mình là mặt giăng mặt giời à? Thế mà chả thấy cãi nhau.
- Thì hôm nào mình thử cãi nhau đi.
- Em chả biết ác với ai... Chị đố đấy.
- Cứ phải ác mới ...thằng nọ con kia được à?
- Ừ. Người ác phồng mặt nhân. Người nhân chẳng mặt gì.
- Chị giỏi thế... sao báo cáo... báo cáo thế.
Công định nói sao báo cáo chả gai góc nhưng ngại nên lấp chỗ trống nhanh. Mười ngón tay chị vẫn như chơi piano. Công hỏi sau này chị về hưu định chọn ai kế nghiệp. Chị bảo kế gì cái này, chẳng qua chị học hành lỗ mỗ...Làm nhiều, rồi nhớ, rồi thuộc, thành đường đi.  Công bảo chị thử chọn em đi. Chị lắc đầu. Công gặng thì chị hỏi: “Giấy khen nhận về chú có treo tường không?”. Công thật thà: “Em cho tất vào tủ quần áo”. Chị lại lắc đầu. Công hỏi luôn: “Thế chị treo à”. Chị đáp: “Nhà chị chật”.
Công đến nhà chị một lần. Mái proximăng, tường mười, vào nhà không nhìn đi đâu xa được. Những tờ giấy A4, chữ in đen, xếp xếp trên tường, trần. Công hỏi chị mà cũng làm hỏng nhiều như thế này à? Chị im lặng đôi mắt mơ hồ một lúc.
Chị xây dựng văn bản, in ra, anh Mờ ý kiến, in lại, lại ý kiến... Đường đi đến kí tươi dấu đỏ để lại sau lưng không biết bao nhiêu giấy hỏng, chị không thể cho một mồi lửa. Hết giờ chị về có một cái túi giấy. Năm tháng; những tờ giấy ơn chị hay chị ơn nó. Nó có chỗ để đậu; chị có những giấc mơ... Lúc chị đi xuống bếp, Công ngả người trên ghế, đầu óc tự nhiên đi con đường bóng chị.  Công nhớ, có lần ghé mắt vào màn hình của chị. Loang loáng thôi, đâu như về nề nếp làm việc, hành chính và điểm danh, kiểu như bắn bia việc nào cũng thủng mấy lỗ. Công đứng trước dấu ba chấm (...), trước Công là đồng chí Nguyễn Văn Thanh, Trần Đức Đát, trước hai đồng chí là đoạn câu... có ý thức đổi mới.
Hôm nay cả cơ quan ra tất hội trường. Chả có việc gì làm vì trang trí, loa đài thuê trọn gói rồi nhưng ai cũng đến sớm. Chao đi chao lại, chống tay, ngó nghiêng, bình phẩm... Công đến sau, thấy chị ngồi, chị vẫy lại. Công hỏi chị xong rồi, cần gì phải ở đây. Chị bảo tí nữa mới biết.
Khai mạc. Anh tổ chức đọc lời dẫn, giới thiệu đại biểu... vỗ tay. Đồng chí Mờ đọc báo cáo chính, phần... phần... Công thuộc lòng. Công nhìn sang chị, chị chăm chú như uống từng lời. Công vỗ vào tay chị: “Chị bị ma làm à”. Chị xua xua ý bảo Công trật tự. Công đành phải trật tự. Chị đang lẩm bẩm... Chỗ nhấn mạnh sao không nhấn nhỉ? Chỗ này thì lướt đi! Giọng đều quá... Thôi lần sau mình phải hai cái en tơ, rồi bôi đen cho rõ. Công lại nhìn chị, chị tự là đạo diễn, không thể góp ý cho diễn viên.
Công bảo chị, em ra ngoài một tí. Chị bảo mười một giờ kém mười lăm là trao giấy khen, chú có tên đấy. Công ra ngồi quán cà phê ngay đó. Cái loa phóng theo, vang vang và sâu sắc.
Công quên mất lời chị rồi. Lúc xướng danh Lê Văn Công, Công nghe nhưng nghĩ đến phải băng qua bạt ngàn người ghế lên sân khấu nên thôi... Vậy nên, bây giờ, Công phải nghe chị trách:
- Chú làm sao ý nhỉ.... Đây giấy khen đây. Phong bì đây.
- Em tặng chị một cân cá. Công bóc phong bì, rút tờ năm mươi nghìn đưa chị.
- Tiền này không phải là tiền... Chị xua tay.
Theo phản xạ, Công lùi người lại. Công định nói gì chưa xong thì chị đã tiếp:
- Chị không thể chung tiếng khen trong đấy.
* * *
Sáng thứ hai đầu tháng, rỗi rãi, Công rủ chị đi ăn phở. Công năn nỉ mãi, chị phải gắt không đi là không đi. Lúc Công về chị đang mở tủ tài liệu. Cái tủ rỗng không, nó đã ra bàn chị, bàn Công. Chồng chồng quyết định, công văn cao ngất như sắp đổ. Công đứng thành ra người thừa, lấy tay giữ thì chị giãy nảy lên:
- Đừng động vào!
Công quay ra bàn trà. Phía trong vẫn lịch kịch. Bà chị làm gì đấy? Một người hất hàm. Bà ấy bị ngủ mê, một người trả lời.
Công vào không thấy chị đâu. Lúc ra kéo cửa, lúc vào đóng. Bóng điện vẫn sáng, điều hòa vẫn ro ro. Công ngơ ngác ngó xuống gậm bàn, rồi mở tủ. Không có. Công định gọi nhưng sợ thanh động. Ngồi vào máy tính mà ruột gan như lửa đốt; Công nhắm mắt, bất lực. Mở mắt ra. Chị đang ngồi lách cách bàn phím từ bao giờ.
- Lúc nãy chị đi đâu đấy?
- Không. Chị ở đây.
- Sao em không thấy.
- Chị không biết. Chị soạn sắp xong cái công văn trả lời sở T rồi.
Công không sao hiểu nổi. Mấy ngày qua, sức khỏe bình thường, ăn tốt, ngủ không mộng mị. Công thử hỏi chị tiếp một câu:
- Chị có bị đau đầu không?
- Làm sao mà chị phải đau đầu?
- … Em xin lỗi chị…
Công sợ chị biết điều khác thường của mình. Nhưng không, chị đang dán mắt vào màn hình. Chữ gọi chữ ra tơi tới.
Buổi chiều mất điện, hai chị em ngồi chuyện phiếm. Công nói thật chuyện sáng nay, rõ ràng cửa đóng, chị không ra mà không thấy chị trong phòng. Chị tròn mắt: “Có chuyện đó à!”. Chị đứng dậy, phủi phủi vạt áo như rũ điều mờ ám văng ra. Công thấy tóe tóe những ánh vàng. Sợ hoa mắt, Công nhắm mắt lại. Mở ra thì bóng điện đã sáng.
Không biết làm sao, thứ sáu đó cả cơ quan chuyển phòng. Phòng nọ sang phòng kia, bàn ghế, máy tính, người khiêng, xếp đặt…  nhao hết cả lên. Công chả có gì ngoài cái máy tính đầy ắp tư liệu. Năm phút xong, Công đi giúp chị. Lại cái tủ, mở ra, bê chồng tiếp chồng. Giấy tờ, dấu đỏ, dấu photo. Khi xong xuôi, Công có ý đứng sát chị. Có thể lặp lại chuyện không nhìn thấy chị…
- Xong rồi, chị làm việc đi!
- Làm sao chị đau đầu quá.
Chị gục xuống bàn. Công nhìn màn hình thấy dòng chữ hiệu ứng nhào lộn. Công en tơ. Lập tức chị choàng tỉnh dậy, nét mặt khoan khoái.
- Chị hết đau đầu chưa?
- Vừa nãy chị bảo đau đầu à?
Công định nói “Chị nói gì mà không biết thì chắc làm gì cũng không biết” nhưng lại thôi. Chị đang làm việc như không thấy chị. 

ĂN ỚT

Nhà cô giáo Liên ai cũng ăn ớt giỏi.
Năm bố cô đi bộ đội về phục viên. Nhà bảy người, lo ăn bạc mặt, cơm không đã là ngon quá, là đặc sản gọi theo ngôn ngữ bây giờ. Thức ăn  Có cái gì thì ăn cái gì! Cá mắm bà mẹ thương, bớt bơ gạo lấy năm lạng, tháng hơn tháng mua một lần. Muối giềng, bố đi rừng xách về, cạo rửa, thái giã, cho tí mì chính rang lên, thơm nức.
Bảy người ăn chỉ hai người làm công điểm. Năm bảy lạng thóc/công, vụ đến sân kho hợp tác xã lấy về ba tạ. Sáu tháng, chia cho bảy người không ai làm toán thế. Biết trước tương lai thì nhanh chết hoặc âu sầu, vật vã. Cơm không một tuần ngày mùa, bữa nào bọn trẻ cũng căng rốn, chống tay đầu gối, ì ạch đứng dậy. Thùng gạo như có ai ăn cắp, mấy ngày lại ù éc, thì thụp xay giã. Mưa liền liền, quanh ra quẩn vào lại nấu cơm. Mẹ sốt ruột, ngồi thừ; bố con vẫn chơi cờ tướng cãi nhau ing om.
Đã ba lần mẹ chui vào hòm thóc, gọi đứa út mang cái chổi, cái hót rác. Tiếng đáy hòm như tiếng đóng quan tài. Lũ trẻ vẫn bịt mắt bắt dê, xì kíu vòng quanh.
Mẹ cầm rá gạo, bố nắm hai nắm lại bảo: Mùa còn lâu. Đói không chết. Nước mắt mẹ trào ra. Mẹ nghiêng ngó không thấy ai, lại bốc lại một nắm gạo vào rá.
Cơm chín chưa? Cứ chơi đi sốt cả ruột. Đây hai củ khoai này chia nhau. Anh cả nhận nhiệm vụ, giơ hai củ khoai lên cao như người ta giơ cúp bóng đá bây giờ. Lũ em nhao nhao, rướn người, vòng quanh, trước sau. Đám người và khoai rầm rập từ bếp, lên nhà, ra vườn thì hạ cỗ.  Anh cả xoè tay, phồng rộp, lựt lạt. Khoai chỉ còn ấm ấm. Trật tự! Anh quát vào những bàn tay lũ em đang như mũi lê xông lên. Trật tự rồi, tất cả tản ra, ăn cả vỏ.
Về ăn cơm! Tiếng mẹ gọi. Chạy, mấy cây cà bị oan, những đôi chân trần như gió. Bố chúng mày đâu?... Đây đây có món này tuyệt vời. Bố cầm cái bát con đỏ nhức mắt vào. ớt.  Đàn con đã sang bát thứ hai. Mẹ ngồi đầu nồi, đôi đũa cái đảo đi đảo lại  Hai củ khoai không có tác dụng gì. Mẹ nhìn bố như cầu cứu. Bát ớt dưới mâm vẫn chỉ mình bố. Bố cầm cái thìa xúc, hắt nhẹ vào từng bát đàn con, động tác rất nhanh. Thằng cả lè lưỡi, vươn cổ nuốt. Thằng hai mặt nhăn nhó. Đứa ba, tư, năm, sáu kêu lên: Ớt! Ớt. Đứa út khóc như bị mẹ đánh. Mẹ nhìn bố: Anh ác lắm! Bố chạy lên đầu nồi, tự xơi rồi đổ cả bát ớt vào. Thẳng lưng thẳng cổ, mặt không biến sắc. Bố đang làm tấm gương.
Nồi cơm tưởng thiếu hoá ra thừa. Bữa tối, lũ trẻ nem nép, lặng lẽ ngồi. Bát ớt cũng im lặng đỏ, vàng ra xung quanh.
Như thế như thế thì đến mùa. Ơn giời không đứa  nào ốm. Có đầu có đuôi cứ nuôi khắc lớn, hết tháng rồi sẽ thành năm. Bảy đứa giờ đều làm cán bộ. Bữa cơm sum họp ớt vẫn nhiều hơn thịt cá. Bát đỏ, vàng bố phải ba lần lấy. Mẹ vui trào nước mắt, kể chuyện ngày xưa có anh kia nhà đói, sang hàng xóm đúng bữa cơm được mời xã giao. Anh ngồi xuống liền, nhận bát cơm, tự so đũa. Để chống thẹn anh bảo Vừa ăn cơm ở nhà thấy có ớt ăn vui một bát. Tất cả cười. Cô út sụt sịt, anh cả bĩu môi: Cả nhà nhìn cô giáo Liên kìa, hơi tí là xúc động, nước mắt. Liên nói trong giọng khóc: Không phải. Các anh ăn hết ớt của em rồi. Em được có ba quả. Bố cầm bát đứng lên, mang vẻ mặt buồn buồn quay lại: Hết mất rồi. Để chiều bảo mẹ ra chợ mua năm cân về ngâm.
Như thế như thế rồi nhà lại vắng tanh. Mẹ buồn, bố bảo: Có phúc mới được hai ông bà ở nhà đấy.
* * *
Liên về từ hôm trước. Ba đứa bé người Mông ngơ ngác cùng về. Liên bảo: Nó là học sinh lớp con, cho xuống thị trấn chơi. Mẹ hỏi tên từng đứa. Dế à! Sùng à! Mua à! Liên bảo: Mẹ đưa chúng nó tắm rửa hộ con với, còn bố sắm cho mỗi đứa một cái đèn ông sao. Bố cười: Thôi bố mẹ chuyển ngành sang làm giáo viên vậy.
Ba thằng Dế, Sùng, Mua tắm rửa xong nom nhanh nhẹn hoạt bát hẳn lên. Đèn ông sao bố cũng vừa mang về. Liên mở điện thoại bảo: Nhà ta hôm nay ăn cơm sớm cho bọn trẻ chơi trăng.
Ngon quá! Thịt nướng ngào ngạt. Canh cá thơm lựng. Món nộm ba màu tươi rói.  Ai là tác giả đấy? Bố thiết kế, mẹ thi công, cô giáo chấm mấy điểm? Tám điểm. Sao cho đắt thế? Em có nhiều tiến bộ nhưng phải cố gắng nhiều hơn nữa. Liên nghiêm mặt giọng  cô giáo. Cả nhà cùng cười. Ô! Các cháu ăn đi! Mẹ giật mình. Ba đứa ăn nhỏn nhẻn, và một miếng lại nhìn. Bố gắp thịt nướng, mẹ gắp món nộm cho ba thằng. Liên bảo: Mỗi đứa ăn hết ba bát thì cho chơi trăng không thì bắt đi ngủ.
Câu chuyện của ba người lớn lại tiếp tục. Mẹ kể chuyện ngày xưa, bố kể chuyện hồi ấy. Liên cười: Bố mẹ mắc bệnh già rồi đấy. Liên bảo con ở trên Hua Nậm hoá ra sướng, gió núi lồng lộng, rau cải nương ngọt lừ, thỉnh thoảng lại được miếng thịt nai, hoẵng phụ huynh cho. Bố bảo: ừ ở trên đấy cũng tốt. Mấy người đã được sống sạch, ăn sạch. Mẹ lắc đầu: Cái ông này định cho nó ế chồng trên đấy à. Liên cười sặc sụa: Bố mẹ muốn con tảo hôn như bố mẹ hay sao!
Chết rồi sao mấy đứa cứ bưng bát thế này? Mẹ vột vạt. Bố nhìn, Liên nhìn. Thằng Dế mắt đỏ hoe, thằng Sùng mặt như khóc, thằng Mua đang sụt sịt.
- Sao vừa mới đi sáng nay mà đã nhớ nhà à?
- Khổ quá! Trẻ con nói nhẹ thôi. Nhớ chứ sao lại không nhớ.
- Toàn món ngon thế này mà
Ba người lớn nói. Ba đứa trẻ ngồi im, nước mắt cứ thế trào ra.
- Nào để cô bón nào. Chiều mai cô trò mình lại về bản.
Liên nựng, lau nước mắt, bón cho từng đứa.  Thằng Dế cố nuốt, thở hổn hển. Thằng Sùng lắc đầu quầy quậy Không. Không ăn đâu. Thằng Mua, thìa cô vừa đưa đến là nức nở.
- Chết thật về nhà cô giáo lại không ăn thế này mang tiếng chết. Thế không ăn thịt, ăn nộm để bà chan canh nhé.
Mẹ cầm muôi chan vào bát từng đứa. Xong ba bát, mẹ đưa lên nếm thử.
- Chết thật rồi. Mình hại ba đứa trẻ rồi. Mẹ kêu toáng lên.
Bố ngơ ngác. Liên mặt tái đi.
- Cay quá. Tao còn thấy cay. Bọn trẻ ăn làm sao nổi. Thôi thôi làm món khác.
Ba người lớn đứng dậy. Liên mở tủ lạnh lấy miếng thịt ra thái. Mẹ cầm đèn pin ra vườn hái cà. Bố chạy sang quán mua ba hộp cocacola.  Loáng cái, tất cả đã về mâm. Ba đứa cắm đầu ăn. Mẹ nhìn những cái má phồng phồng nhịp nhàng. Liên hồi hộp đến tận khi ba đứa buông đũa. Bố ngồi im như ân hận.
Liên đang châm nến vào đèn cho ba đứa. Mẹ bưng mâm ra vòi nước, bố đi theo. Mẹ gắt bố:
- May hôm nay tôi phát hiện ra. Không thì mang tiếng cả đời.
Bố thở dài. Có lẽ tôi mắc bệnh già rồi.
Điện Biên 09/10/2009

CÔ QUỲNH




Năm tôi học Vỡ lòng, đến kì II thì  học cô Quỳnh. Thầy Hoa chia tay, cô Quỳnh gặp mặt. Chán thế không biết.
Thầy Hoa có hai anh là liệt sỹ; chưa đủ 18 tuổi đã nằng nặc xin đi bộ đội, lần nào khám sức khỏe xong cũng… mãi không có giấy gọi. Thầy buồn đập cái chân phải xuống đất: Sao mày không thọt ở người khác; rồi thầy ở lì nhà; ngồi, nằm đọc hết bốn tủ sách của bố, đọc xong như có ma làm. Ngày đêm viết, đi tong chín tập giấy giang. Toàn chuyện trai làng Động Lâm chiến đấu ở miền Nam. Các anh bộ đội tạt qua thăm nhà, hay tin, tìm đến. Thầy hỏi có đúng không? Họ đáp đúng một nửa. Nửa sai là gì? … Gặng mãi, một người nói: Súng đạn, dũng cảm nhiều quá! Mà thôi ai chả nghĩ thế. Nói một cái ví dụ cho em đi! Thì nói... mà chỉ biết nghe thôi nhé... Như anh Hùng, anh Minh nhà em nhớ chị Hoa, chị Bình muốn trốn về một đêm với nhau rồi ra sao thì ra…Thế à? Thế à? Cùng tiểu đội, nói sai, bọn anh chết không là liệt sỹ.
Sau đận ấy, thầy Hoa bỏ viết, nhúc nhắc ra đồng làm công điểm. Đội cấy, đội cày toàn chị em; thầy mì chính cánh, giữ mãi. Nhưng một hôm, chị Hoa khóc, ôm lấy thầy mà nấc lên: Anh Hùng. Một tối, chị Bình vừa tắm rửa xong, đến bờ rào duối gặp thầy, ngã luôn vào, gọi: Anh Minh.
Xã biết chuyện, tách ra. Bố trí thầy dạy lớp Vỡ lòng Đại Minh Hùng.
Chữ thầy đẹp (sau này tôi chưa thấy ai viết đẹp như thế). Tay thầy cầm phấn như cầm bút lông. Viên phấn đưa sát bảng, chợt vòng lên như cánh chim rồi là là lướt lướt, chữ từng chữ hàng hàng hoa nở. Thầy đứng sang một bên, xòe tay, ngón chỏ sát dưới dấu chấm cuối. Chúng tôi mê, mồm méo tròn theo. Thầy rất khẽ đến từng đứa, cúi xuống, nhẹ nhàng…Tôi cảm giác thầy là ông tiên hiện hình, chữ là bùa phép. Chúng tôi yêu thầy, yêu tất cả những gì là thầy. Có lần, lão Thê ngồi hút thuốc lào với bố, bố khoe tôi viết chữ đẹp. Lão cười: Học sinh thầy Hoa thọt mà lị! Tôi mặt đỏ tía tai gào to: Có cái mồm ông thọt ý!
Vậy mà phải học cô Quỳnh.
Bố bảo: Thầy Hoa sang làm ủy ban xã. Cô Quỳnh, vợ liệt sỹ lại học hết lớp 7, dạy vỡ lòng là hợp lí. Tôi không chịu, xị mặt: Bố đừng có mà bênh. Mẹ giảng giải: Hai nhà đều là gia đình liệt sỹ nhưng cô Quỳnh mới có ba tháng báo tử chồng mà trông khiếp quá, mắt sâu hoăm hoắm, gặp ngoài đường như ma trơi. … Xã cũng nâng lên hạ xuống nhiều rồi.
Tôi vẫn ấm ức về cái ông xã chẳng biết cái quái gì. Bọn trong lớp cũng thế, nhìn nhau là hỏi: Sao thầy Hoa lại không dạy chúng mình nữa nhỉ? Cô Quỳnh xấu mù chắc chữ cũng xấu thôi. Không phải, cô Quỳnh đẹp. Tôi định nói tóc cô dài nhất xã nhưng kìm lại được. Tôi còn tức hơn chúng, thầy Hoa bảo tháng 5 mỗi xã chọn một em viết thư báo công lên Bác Hồ. Còn ai vào đấy nữa, tôi sung sướng… Nhưng bây giờ cô Quỳnh, tôi biết trông cậy vào đâu??? 
Đúng là chữ cô Quỳnh xấu thật. Cô cầm viên phấn như hòn đá, rằn mạnh, cứ một chữ lại một tiếng cạch. Khó chịu. Bọn tôi buông bút, ngả nghiêng; trời chợt xầm xì, bụi tre trước sân ngả xuống, lớp nhập nhoạng, rồi tối hẳn chả nhìn thấy gì nữa. Cô xuống kiểm tra, mới vài đứa viết. Tối quá, thôi cô cho nghỉ tí nhé. Cả lớp được thể, như khỉ nhảy bàn nọ sang bàn kia, đùa nô đấm đá.
Mưa, bắt đầu mưa thì trời sáng ra. Lại tập đọc mới chết. Bà còng đi chợ trời mưa/ Cái tôm cái tép đi đưa bà còng. Chúng tôi gào lên, cả tiếng đập bàn thuỳnh thuỳnh. Cô Quỳnh bảo các em đọc nhẹ thôi, cô nhìn ra phía con đường, rồi ra hẳn hè ngó trước sau. Trời vẫn như cầm cả bể nước đổ xuống.
Trưa tạnh, vừa đến giờ tan học. Tôi đi vòng đường gò Chãi, qua nhà thầy Hoa. Tôi sẽ tâu với thầy về cô Quỳnh, tôi sẽ bảo thầy cả lớp không muốn học cô Quỳnh. Thầy chưa về, tôi ghét cái cổng tre vẫn sập.
- Cô Quỳnh dạy có được không cháu?
Tôi đang cúi mặt phải ngẩng lên. Bà San, mẹ chồng cô.
- Cô… cô dạy được bà ạ! Tôi định nói kiểu sẽ nói với thầy Hoa nhưng thấy cái mặt bà ác ác như mụ dì ghẻ nên không muốn hợp tác.
Này bà bảo thật nhé, bà cúi sát xuống tôi, cái nón nhốt kín… Đi học, thấy cô Quỳnh thế nào về cứ kể với bà. Mùi trầu, mùi hoi hoi, khẳn khẳn… Tôi vặn người, vù một cái ra phía trước – Bà thích thì đến mà ngồi học. Con nhà khó bảo, bà tay chống nạnh nhìn theo.
Buổi học hôm ấy chúng tôi được một phen khoái trí và kinh hồn.
Giờ ra chơi, như lệ thường, cả lớp ra bãi đồi đầu hồi chơi. Ở đó tương đối bằng phẳng, cỏ êm; nhảy ngựa, rồng rắn lên mây, đánh khăng… đều tuyệt vời. Nhảy ngựa vẫn là thích nhất, từ xa phóng như tên lửa, dậm đà phóc lên, ngã xô chồng đống, hổn hển mồ hôi. Ngựa quị phải tiếp tục làm ngựa, người nhảy trượt phải làm ngựa, ngựa nhiều hơn người. Tiếng cười hò la không ra hơi. Cô Quỳnh một mình trong lớp buồn quá cũng mang len ra ngồi đan. Có lúc bọn tôi ngã xô vào cô. Cô hốt hoảng: Có bị kim đâm không, chơi cẩn thận nhé. Đã chơi ai còn cẩn thận, chúng tôi lại huỳnh huỵch la hét.
Ô nón quay chúng mày ơi! Đám nhảy ngựa tất cả làm người, tụ lại một vòng quanh cái nón. Cái nón ngửa, chầm chậm rồi tít mù như bên dưới có vòng bi. Lốc đấy, hồi tao với mẹ bắt cua, nón mẹ lật xuống cũng tít mù như thế này. Sao không thấy gió? Thì trong núi, gió thành dòng. Chúng tôi há mồm, tròn mắt, bình luận và xoay theo nón. Thật là một buổi xiếc trời miễn phí. Nón của đứa nào ý nhỉ. Của cái Lanh. Đâu có, nó quai xanh cơ mà, đây quai dây chuối, của cái Hòa. Mấy đứa ghé sát mặt vào. Cái nón rõ vòng chầm chậm… Sao dưới chân trơn trơn… Rắn… rắn… rắn…Tiếng kêu thất thanh, mấy đứa con gái nằm xuống chết ngất. Con rắn hổ mang to bằng bắp tay người lớn đang trườn ào như thác lũ. Nó chợt nghênh đầu, cái lưỡi thò ra thụt vào phì phì, rồi bất ngờ đầu biến mất. Một cơn bão tanh tưởi ào ào. Ối mẹ ơi… tôi nhắm mắt lại, chết giấc.
Tôi tỉnh lại, len lén nhìn cái nón, giờ đã úp xuống. Bọn chúng thấy tôi mở mắt reo to: Không phải chết rồi! Nhưng bên tôi, cô Quỳnh đang nằm, mặt tím tái… Đi gọi thầy Hoa, chúng tôi chỉ nghĩ được thầy Hoa.
Ba ngày liền, chúng tôi lại được học thầy Hoa. Sáng thầy đi ủy ban, chiều về dạy. Chữ thầy vẫn đẹp, giọng thầy vẫn nhẹ nhưng thấy khác khác làm sao... Bên dưới nói chuyện riêng. Xì xào, lè lưỡi… Lúc ấy con rắn quăng mình, sát mặt mày một cái kim thì như tia chớp… Cô Quỳnh tung người lên chặn. Thằng rắn nhoằng luôn vòng quấn cổ cô. Cô gồng nghe đánh tưng một cái, rồi cầm hai dùi sắt cứ thế mà đâm vào mạch máu nó... chảy ồ ồ. Phét, làm gì có thanh sắt lúc ấy. À quên, hai cái kim đan… Một lúc thì con rắn hộc lên, lủi mất vào bụi. Tao thấy nó leo lên cây trám cơ mà. Ừ, vào bụi sau đó trèo lên ngọn trám. Có khi nó về gọi vợ nó ra.
Ngày thứ tư, cô Quỳnh trở lại lớp. Chúng tôi thấy chữ cô đẹp hơn, giọng nói cũng mềm mại hơn. Hình như cô khác ra, khuôn mặt thanh thanh, đôi má hồng, mái tóc dài mượt đến khoeo. Tôi nghĩ thế, chắc chúng nó cũng thế nên chăm chú, chả mất trật tự tí nào. Cô trò đều vui, giờ học vèo cái đã hết.
Một buổi, cô trò đang say sưa thì bà San đến. Bà ngó nghiêng một lượt rồi ngồi phệt xuống cửa ra vào. Cả lớp tròn mắt. Cô tái mặt, rồi khẽ đi lại: Mẹ có việc gì...! Tôi chả có việc gì, chị coi tôi là con mèo con chó hay sao mà để ngoài vườn suốt từ sáng đến giờ. Cô ngẩn người, rồi cũng quay vào lục cặp, cô quay ra: Mẹ ơi con không khóa cửa, con nhớ lúc đi mẹ ngồi ngoáy trầu trong nhà cơ mà. Lại còn lí sự à... thôi không nhận thì tôi về. Chinh ơi là Chinh ơi, mày sống lại mà xem vợ mày nó đối xử với mẹ mày này... Cô Quỳnh chạy theo, mái tóc không theo kịp: Để con đưa mẹ về. Không dám chị cứ công tácđi. Chúng tôi ra, cô ôm lấy những cái đầu. Ai đèo ấy nhỉ? Lão Thê hàng xóm. Cút đi! Cút đi! Hai mươi cái miệng giẩu lên, phù một cái. Với người lớn không được thế, cô nói giọng như khóc.
Thời gian còn lại thật nặng nề. Cô cho chúng tôi tự viết. Trang giấy chúng tôi chập chờn bà San. Y hệt cái mặt dì ghẻ.
Về nhà tôi kể chuyện này cho bố mẹ. Bố bảo: Cay nghiệt nhất cái làng này, ai chả biết. Sao cô Quỳnh không bỏ quách về quê mà lấy chồng, cứ ở cho bà ấy hành? Mẹ nói: Thì vẫn... Đành rằng chú Chinh chú ấy chết rồi. Dưng mà anh phải hiểu cái tình, đâu như cầm cái kéo cắt xoẹt tờ giấy. Tình cái con khỉ, tình cho người ta, nghoảnh đi nghoảnh lại mình già khọm ma nó lấy. Đừng có mà nói người ta thế...Mẹ ghé vào tai bố thì thầm... Nhà lão Thê đang muốn hỏi cô ấy đấy. Lão Thê... Thật chán cho mẹ, không biết đầu mẹ làm sao.
Lão Thê hơn được con cá mắm, mặt tinh những mắt là mắt. Lão có hai món nhất - Nói phét và đánh vợ.
Lão có bảy đứa con gái. Bà vợ to, mặc cái áo lúc nào cũng hở rốn đen như hàm răng vâu. Dân làng bảo răng bà ấy đen vì hễ mở mồm ra là l..., như l treo trên môi. Cho chết môi cũng như dái ông đánh dậm. Còn rốn đen là vì đẻ nhiều. “Con nái này toàn là trứng cái!” Lão Thê ngồi uống rượu với cua rang, chỉ đũa vào mặt vợ quở. Ông bảo ai nái, thằng nào đêm nào cũng trèo lên lợn nái. Chiến tranh rồi, hai tay vợ đã chống hai sườn, cái ngực rung rung đang tiến lên. A mày muốn chết hả? Làm nái không biết đằng làm nái còn tinh vi. Lửa đổ vào dầu. Xông lên, chai rượu rỗng vù đi, choang ngoài bậu cửa. Rồi cua, rau thơm theo chuyến mâm bay ra hè. Chỉ còn hai người vật nhau, hồng hộc như hai con lợn rừng. Yếu trâu hơn khỏe bò, lão Thê lẻo khỏeo là thế đã đẩy bà vợ ngã xuống đất. Ối giời ơi nó giết tôi. Tiếng kêu như hồi trống giục ba quân. Trong buồng, dưới bếp, sau nhà đàn con gái đùn đùn ra. Dám đánh mẹ hả, hôm nay cho bài học. Lão Thê thấy mắt bừng lên một cái thì một núi đàn bà đã ập xuống. Dận, huých bằng mông, bằng tay; rồi bằng chân, họ đứng lên dẫm, nhay nhảy như lão là cái cối đất làm gạch. Chừa đánh mẹ chưa? Thở. Xin đi... Cho bố xin... Từ nay...
Tan mưa tạnh gió. Chiều, thấy vợ con ra đồng, lão lầm lũi đi theo. Tối, lão xuống bếp nấu cơm. Vợ lặng lẽ ra quán bà Giáo chịu chai rượu. Rượu ngon, có đĩa lươn chả đứa nào gắp. Lão lâng lâng nhìn.
Được hai hôm, lão chẳng ra đồng, chẳng lên rừng. “Sau đít đàn bươm bướm suốt ngày, thế mà cũng thấy thơm, chịu ông?”. Thì bảo theo ai? Đần quá, ngủ in ít đi, đêm ra đầu ngõ mà nghe... Chỗ nào có tiếng xay lúa, dội nước thì đến. ...Đấy cái đám dạy vỡ lòng đấy. Đảm bảo thả xuống một cái không thằng cu tôi làm con ông.
Cô Quỳnh. Tóc dài, mông rộng... Lão thấy rạo rực. Nhưng, sợ. Léng phéng, xã cho dân quân đến gô cổ. Lão vuốt ngực một cái bảo đám bạn rượu: Đừng xui dại thằng này.
Lão về nhà, vợ con ăn sắp xong. Lão chửi. Đá tung mâm cơm. Thừa thắng lần trước, lão lại bị làm cối đất gạch. Chẳng thấy đau, lão đang mơ mái tóc dài, cái bụng chửa. Lão cứ nằm, thành đất mất nếu hôm ấy không có bố tôi vào gọi.
Lão và bố tôi chạy, bờ ruộng như sợi dây xiếc, hai người đang bay về. Muộn rồi. Mẹ lão đã theo bố lão, ông bà tổ tiên một phút trước. Lão hức hức, úp mặt xuống mẹ.
Con một, lão chẳng biết lo toan gì. Lão ầng ậc nước mắt, quanh ra quanh vào chỉ nói độc một câu: Cảm ơn dân làng. Tình hàng xóm, đến việc là đâu ra đấy. Bố tôi lo tổ chức tang lễ, thầy Hoa hay tin chạy ra đã cầm sẵn điếu văn, cô Quỳnh loáng cái đã thấy đủ hương, tiền, vàng. “ Bà xuống trước bảo các cụ đừng đi đâu xa nhớ, đợi tôi” - Bà San lẩm nhẩm như ma làm. Lão chỉ lo việc chống gậy, thường trực cái mồm mếu máo. Lão đau mất mẹ một phần, phần nhiều là vợ lão không ra. Sao có loại đàn bà bạc thế, lão lại rống lên, ai oán.
Hậu tang, lão không bỏ qua cho bà vợ, tuyên bố: Tôi ra ở nhà bà, nhà tôi độc đinh tôi phải hương khói. Lão đi, chỉ lấy cái xe Thống Nhất và can rượu dở. 
Lão thành hàng xóm nhà tôi, cô Quỳnh.
Bố tôi ghét lão nhưng chả bao giờ ra mặt. Lão đến ngồi tiếp, sổi cũng ba tiếng; ấm trà ba lần đổ bã; thuốc lào, bố hai lần vào buồng véo. Thường là lão nói, bố ngồi hai chân lên ghế, vặt râu xuông, thỉnh thoảng giơ cái nhíp lên nhìn. Lão đang kể chuyện Hồi đánh Khe Sanh... Chú biết không (lão kém bố tôi ba tuổi nhưng cứ thích thế), bọn nó súng cối, súng máy hai chục cái vãi đạn xuống. Tiểu đội tao chết sạch. Chết mà mà còn kể chuyện, tôi nằm giường thấy buồn cười. Hượm, thằng cu nghe tiếp này.... Còn mỗi tao, với một khẩu AK, với chín viên đạn, với hai quả lựu đạn. Mẹ chúng nó, vẫn bắn không ngừng lấy một giây. Tao nằm xuống trên xác mấy thằng bạn. Nghĩ nát đầu, mình mà chết nữa thì về không biết nói năng với tiểu đoàn trưởng như thế nào. Tao bấm vào tai, máu chảy ròng ròng trên tay. Được rồi, tao suýt nữa thì kêu ra tiếng. Tao nói thầm vào tai mấy thằng bạn... Mày hiểu, thông cảm cho tao, phải cho chúng nó câm họng. Tao hai tay hai xác bạn, nhô cao người lên, đạn địch lập tức như mưa. Thương chúng nó quá, chết còn che chở cho tao. Thôi bắn rồi, chúng mày phải lắp đạn chứ. Tao chỉ chờ có thế, nhích lên. Chúng lại bắn, lại hai thằng bạn nữa hứng đạn. Cứ thế... năm lần chúng thay băng thì tao áp sát miệng lỗ châu mai. Nằm im mươi phút, chúng lại thay băng. Các con ơi vĩnh biệt rồi! Tao reo to, liệng như điên hai quả lựu đạn vào. Tịt ngóm. Khói đen lờ đờ bay ra, có cả mùi thịt cháy. Tao khóc, ôm lấy tấm thân 11 thằng bạn chi chít vết đạn.
Ha... ha... ha... Tôi đau bụng quá, cười rung cả giường. Ô thằng cu này buồn cười nhỉ! Cười chứ sao lại không cười, ông đi bộ đội ngày nào mà nói phét, mẹ tôi nãy giờ ngoài hè, đi vào nói. Lão Thê đuỗn mặt, rồi hề hề: Thì cánh thằng Hùng, thằng Minh nó kể. Nó kể cũng không kể như thế, ông bịa cũng bịa vừa vừa thôi. Lão châm điếu thuốc, há mồm, rồi ôm ngực hù hụ. Bỏ mẹ sao hôm nay sặc thuốc lào. Lão lảo đảo về. Nói thế phải tội... mà cái lão này hồi trước đâu như đảo ngũ, mẹ tôi chưa hết tức. Bố giảng giải: Không hẳn là đảo ngũ, mới đi khám, người ta thấy toàn thân lở kềnh lở càng cho về chữa, đợt sau đi. Nó sát lá han rồi tắm nước giải đấy, chính mẹ nó khóc kể cái hôm truy điệu thằng Hùng. Thật chả hiểu người hay ngợm nữa.
Nhà lão và cô Quỳnh, bà San chung bờ rào cúc tần. Rặng cúc tần có một khoảng chó chui, sau bếp cô Quỳnh, sát đầu hồi nhà lão. Lão hay qua xin lửa chỗ đó. Bà San lúc nào trong túi áo cũng có bao diêm Thống Nhất. Lão nấu cơm hay để bếp tắt vì bận sang nhà tôi ngồi lê. Bà San hay sang nấu cơm cho lão. Thỉnh thoảng lão trèo cau, mang cho bà một túm, cả một con cá bảo tự nhiên nhảy lên bờ. Bà San cũng đi lại lão chai rượu cúng xong.
Cô Quỳnh hay bị bà San nói chuyện lão. ... Chuyện gì cuối cùng cũng thở dài một câu: Đàn ông một mình nom khổ khổ là. Cô Quỳnh thường im.
Hôm nay lợp xong cái bếp, cô Quỳnh làm hai mâm cơm. Người giúp có bố tôi, lão Thê, thầy Hoa... và tôi đưa cọ cũng được mời. Mấy người vừa rửa ráy xong, đang ngồi chiếu hút thuốc lào. Cô Quỳnh bưng mâm lên, má đỏ bếp lửa. Cô có ý kiến, cảm ơn, mời. Lão Thê rót rượu, cũng cảm ơn, nâng chén. Lão liên tục nói mọi người tự nhiên, gắp thịt gà cho từng bát. Cô Quỳnh cau mặt, lườm lườm. Đến bát thầy Hoa, thầy rụt lại, miếng cánh nằm dưới mâm. Có vẻ căng thẳng, hoạt động ăn ngừng. Hôm nay lão Thê có chuyện chiến đấu mới nào kể cho nghe nhỉ, bố tôi nói. Thôi thôi... lão Thê xua tay, ta chiến đấu mâm này.
Nói chiến đấu, Bà San lại kể chuyện hồi mồ ma chú Chinh, bảo lấy vợ quê không nghe, đánh đùng một cái đưa cái cô này về, giao giá cưới hỏi, chỉ hai hôm con còn đi B. Bà thấy con dâu thế nào? Bố hỏi. Thế nào thì dân làng biết cả rồi, có mỗi chuyện đẻ cũng dốt. Bây giờ có giỏi cũng chả làm gì. Thì cho cô ấy đi lấy chồng? Lấy ai, ai lấy... nói ra bảo tôi cơ cầu, ai đời có tuổi có chồng rồi tóc cứ để dài như gái mười tám ý. Bố tôi bấm sườn thầy Hoa. Thầy Hoa ra hiệu cho bố. Bố bảo bà phiên phiến đi một tí, cô ấy làm cô giáo chả nhẽ váy chằng váy đụp.
Chuyện nọ xọ chuyện kia, xong bữa cũng mười giờ đêm. Cô Quỳnh dưới bếp rửa bát xong, đang gội đầu. Bà San xuống bảo nhanh mà đi ngủ. Tưởng bà lên nhà nhưng vẫn đứng nhìn. Cô Quỳnh cúi, tóc chảy dài xuống chậu, mỗi lần giội nước suối tóc lại ánh ánh, thơm thơm. Bà San vuốt ngực, bất ngờ giật lấy cái ca: Cái này của thằng Chinh, không được dùng. Cô Quỳnh ớ người, đứng lên. Cả thân hình là tóc. Tóc nói, hình như đã kìm lại đến hết: Mẹ... hôm nay lợp nhà bụi bặm. Mẹ mệt, mẹ lên nghỉ trước đi.
Mất ca, cô Quỳnh phải lấy cái bát; tóc dài, dày; lược thưa, lược bí xong thì đã sắp 12 giờ. Cô vùi tro bếp, đang khóa cửa thì lão Thê. Cho tôi xin tí lửa, đun tí nước sôi quấy tạm ít bột sắn... uống rượu bây giờ tỉnh lại đói. Nhà hãy còn cơm, thức ăn để em lấy. Cô vào đang mở chạn thì mái tóc kéo người ra sau... Quỳnh ơi, anh yêu... Đôi tay đang áp trên ngực cô. Nghèn nghẹn, khó thở, có gì đấy như anh Chinh, cô khuỵu xuống, lão như cây chuối ngốp ập theo luôn. Còn làm cái gì nữa, lên ngủ thôi Quỳnh ơi. Tiếng bà San như cái tát. Không, thật là cô Quỳnh tát lão Thê. Lão đang luống cuống mặc quần, cái mặt phơi ra lật trái, lật phải.
Hôm sau lão Thê lại sang nhà tôi. Mẹ tôi kêu hết chè, lão ù luôn về nhà mang sang một gói. Bố nhìn mẹ ý bảo thua chưa.
Bố lại lấy cái nhíp ra nhổ râu khan. Lão Thê thỉnh thoảng vuốt má, tôi nhìn nhìn, lão xòe tay mượn bố cái nhíp. Bố rót nước, lão hỏi chè được không. Bố chẳng nhìn bảo được. Lão bảo chè này đặc biệt đấy, chuyên để dạm vợ, mà vợ dứt khoát thằng cu. Tôi có khi phải kiếm thằng cu chú ạ. Tôi mà được thằng cu dứt khoát sẽ mời cả xóm ăn ba ngày. Thì về với bà trong gò mà gõ, biết đâu thằng cu còn nấp trong ngách nào. Vĩnh biệt rồi, cờ trắng lâu rồi, mà về lũ giặc cái nó xé xác tôi. Nói thế đúng là Thê nói phét. Phét là phét thế nào, tôi dứt khoát thằng cu đấy.
Tôi chẳng thấy hay như chuyện đánh lỗ châu mai lần trước, thật phí cả công ngồi chõm.
Tôi ra đến cổng thì thầy Hoa đến, thầy rủ tôi sang nhà cô Quỳnh. Thầy nói thầm vào tai tôi: Lúc thầy về em đưa cái này cho cô Quỳnh nhé. Một phong bì, dán kín. Tôi cầm, giơ lên, không có chữ gì, lại lật mặt sau. Thầy bảo: Chuyện bộ đội làng mình chiến đấu ở miền Nam ấy mà. Sao thầy không cho bọn em đọc? Thì cô Quỳnh đọc trước, kể lại cho cả lớp.
Cô Quỳnh đang ngồi với bà San ngoài chõng tre. Hai thầy trò đến cổng còn nghe tiếng: Chó mèo thì phải loeng quoeng lục cục chứ. Tôi nói trước, nhà này mà có trò chó mèo ấy thì tôi sẽ báo xã. Cô nên nhớ, gia đình liệt sỹ hô một tiếng, người ta sẽ đến trói ngay, giam vào lò thúc mầm. Cô Quỳnh mếu máo: Mẹ ơi con không hiểu ra làm sao nữa...
Tôi giật áo thầy Hoa: Hay là về... Thầy nắm tay tôi thẳng bước vào. Bà San nhìn thầy quàu quạu, đứng vụt dậy. Cô Quỳnh ngước lên, rồi cúi mặt, tôi nhìn thấy hai mắt đỏ hoe, có nước. Tôi ngồi im. Thầy Hoa hỏi cô việc luyện chữ cho lớp, ngày báo công sắp đến nơi rồi. Thầy Hoa lại hỏi tối qua sau đấy mọi người ngồi lâu không... Cô Quỳnh sụt sịt, rồi rõ tiếng khóc. Nín đi cô ơi! Tôi hoảng hốt nghoảnh vào, bà San đang ngồi như tượng trong giường. Có tiếng hèm, ba tiếng ngắt ra, rồi tiếng bàn ghế, xua gà... Thầy Hoa đặt tay lên vai cô Quỳnh. Rồi thầy vụt đứng dậy, chào bà San, ra về. Tôi cũng chạy theo thầy luôn.
Tối đi ngủ thấy cồm cộm túi quần, tôi nhớ ra việc thầy Hoa nhờ. Sang nhà cô, lão Thê đang ở đấy. Lão đang cúi đầu y như học trò bọn tôi bị phạt. Bà San nói nhỏ nhưng riết giọng: Tôi cảm ơn anh hàng xóm láng giềng, miếng trầu quả cau, đèo xe đi chỗ nọ chỗ kia. Nhưng tôi cũng không muốn anh lò dò như thằng trộm, nhà tôi đàn bà con gái phải cửa đóng then cài. Lão Thê vẫn ủ rũ, ngoan ngoãn đến tội nghiệp. Cho chết, cái giống đàn ông ngồi lê, lê lắm có ngày ăn đòn. Tôi hả hê nhưng nhìn mặt cô Quỳnh lại xót. Cô chẳng có tội gì, bà già này lúc nào cũng phức tạp chấn chỉnh. Tôi đủ biết, bà nói lão Thê, lạnh nhạt với thầy Hoa để dăn cô. Lão Thê, được, hôm nào đi đâu, sẽ đút que vào quả khóa... Nhưng như thế lão sẽ chạy sang nhà cô Quỳnh mượn búa đinh. Không, mình sẽ cưa ngậm cái cầu ao sau nhà lão, cho cá vỗ tay một buổi.
Cô Quỳnh ơi ra em bảo cái này! Tôi sốt ruột, mà cũng là thông minh ứng xử tình huống. Cô ra cổng, tôi nói thầm: Thầy Hoa gửi cô cái thư. Tôi chạy ù về, sung sướng, làm cho thầy Hoa là tôi sung sướng.
Còn mấy lần nữa tôi làm “bưu tá” cho thầy Hoa. Nhưng hỡi ôi, bố bảo con có tội rồi.
* * *
Tháng 5, lớp vỡ lòng Đại Minh Hùng nghỉ học mất hai buổi.
Hôm ấy, đi học về tôi nhảy luôn xuống bếp xục cơm. Đang nhồm nhoàm thì có tiếng trên nhà:
- Có khi em bỏ ủy ban anh ạ.
- Ô cả làng này chữ nghĩa mỗi chú, xã trông cậy vào ai.
- Thì thế em mới phải bỏ ủy ban xin về lại lớp vỡ lòng.
- Còn cô Quỳnh?
- Cô ấy xin thôi, đơn đây này.
Tôi bưng bát cơm lên, đứng đầu hồi, dán mặt vào khe vách. Bố giơ tờ giấy, lẩm bẩm:
- Về quê à? Sao lại là bây giờ? Bà San chẳng còn được mấy năm nữa? Cô này làm sao nhỉ? Không phải. Thôi, tôi với chú sang ngay nhà cô ấy.
Bố và thầy Hoa đi, tôi lẻn theo.
Bà San đang nằm giữa nhà. Nghe tiếng chân người, vật vã, tru tréo:
- Đi rồi, các người đuổi nó đi còn đến đây làm gì?
...
- Quân chó mèo, tưởng lắm chữ, dặt một quân chó mèo đội lốt người... Tôi biết ngay mà... Giời ơi sao giời bắt tôi phải sống với đám chó mèo.
- Bà mệt ạ. Để con đưa bà lên giường. Bố cúi đỡ bà, vẻ mặt kìm nén ghê gớm.
Bà vùng vằng, đôi guốc cày một đường trên nền nhà. Mẹ nghe tiếng chạy sang, nói với bố và thầy Hoa: Chuyện đã rồi, hai người để tôi. Bố và thầy Hoa về, thầy Hoa lùi lại bảo mẹ: Chị làm sao phải đưa được bà lên giường đấy. Được! Được! Yên tâm! Sao mặt mẹ bình thản thế?
Hai hôm sau lớp tôi nghỉ học, tôi là người thông báo. Tôi bảo theo lời mẹ dặn: Cô Quỳnh đi chữa bệnh. Chúng hỏi bệnh gì. Tôi đáp thì bị nôn đấy... (Sau này mẹ cứ than thở con dại quá, tế cho không biết bao nhiêu lần).
Hôm thứ ba, thầy Hoa dạy. Chúng tôi hỏi cô Quỳnh đâu. Thầy bảo bệnh cô sắp khỏi rồi.
Được hai hôm thì lại nghỉ học. Lần này chúng nó hỏi tôi bảo liều: Bố tớ và thầy Hoa về quê đón cô Quỳnh. Zê... zê, chúng nó reo to. Tôi lo cô Quỳnh không lên. Hôm đi mẹ dặn thầy: Xin nhé, một hai phải xin, con chót dại... chuyện đời người đấy. Bố cũng hùa vào: Cấm văn vẻ, viết chuyện để sau, bây giờ cho xong việc lớn đã. Tôi lờ mờ đoán ra việc lớn khi thấy mẹ xếp rất nhiều bánh gai, trầu cau... vào túi.
Chuyến đi của hai người tốt đẹp, có cô Quỳnh cùng về. Bố được mẹ khen: Tưởng ở nhà dùi đục hóa ra cũng biết đường ăn nói. Bố định kể công nữa thì mẹ xua tay... Bây giờ như thế này... Cô Quỳnh cứ ở tạm đây đã. Tôi và bố thằng Thanh xuống xã. Bố bơm xe, mẹ như chợt nhớ, kéo thầy Hoa ra: Tôi hỏi nghiêm túc, chú có yêu cô ấy thật lòng không? Dạ... Em đã nói nhiều rồi, dù Quỳnh thế nào em vẫn trước sau. Cô Quỳnh rơm rớm nước mắt. Bố bơm xe xong hỏi mẹ: Bà San khó lắm, nhỡ đổi ý... Cái gì chả khó; muốn dễ, sang mà hút thuốc lào với lão Thê; mẹ gắt lên. Tôi bảo lão Thê chiều qua bị ngã xuống ao, sốt cao lắm. Chả ai nói gì.
Đám cưới cô Quỳnh thầy Hoa đông nhất làng. Có hai mươi sinh viên vỡ lòng phù dâu phù rể. Bố tôi trưởng đoàn nhà gái, đúng ra là “dịch” lời bà San, bà thều thào nói không rõ, chỉ nghe được “Tôi thương nó, tôi sắp chết rồi”. Mẹ tôi trưởng đoàn nhà trai, đọc một bài thơ lục bát, tôi nhớ hai câu: Duyên tình sớm muộn bền lâu/ Vỡ lòng chung tiếng trầu cau chúc mừng.
Chúng tôi trở lại học bình thường. Cô Quỳnh dạy, bụng đã to to. Về nhà tôi bảo mẹ, mẹ nói: Thì lấy chồng phải bụng to chứ. Cái thằng này đần quá.
Nhà tôi bây giờ không có ông khách đến hút thuốc lào và nói phét nữa. Một lần nhớ nhớ, tôi hỏi, bố bảo: Bị đàn bươm bướm bắt về rồi. Tôi lo. Tại sao tôi lại lo ông bị đánh?
Động Lâm 2009 - Điện Biên tháng 3/ 2011

MÙA NƯƠNG

Tre nứa nổ lốp bốp, cỏ gianh à à ran ran. Khói, tàn đen trong luồng khí nóng hút hút từng vòng như muốn bốc người quay trở lại.
Cứ từ đầu chiều, gió Lào ong ong, như có con gì rứt rứt trong thịt. Hạ sang lớp đúng lúc một cơn lốc ập đến, bụi sộc thẳng vào mồm. Sao lại há mồm lúc ấy. Hạ không bỏ được thói quen xấu, nói ma bàn ghế. Nóng, bụi, bứt rứt... Hạ đã đánh nhau với gió. Mồm hét, chân đạp.  
Ngực vẫn nặng, bụng xèo xèo như ai cầm bó đuốc dụi  trong dạ dày.
Hạ co chân, thả người xuống luôn bên bếp, đẩy vào mấy mẩu củi, thổi phù phù. Lửa bùng lên như chờ suốt đêm qua.
- Thầy giáo ơi sang ăn thịt vẫn còn đi! - Hạ gõ gõ đầu… À… Tối qua uống rượu một mình, sau đó sang nhà ông Vừ. Uống năm chén nữa, chưa ăn miếng nào.
Tiếng ông Vừ gọi. Rồi cái đầu bù xù ngồi trước mặt Hạ.
- Đêm qua chưa say sao bỏ về. Cháu không tốt rồi… Chúng tao đốt nương con hoẵng chạy bị ngã. Nghỉ nương mang về mừng. Không còn thầy giáo vẫn uống… vui mãi không lên được.
- Thế rừng có bị cháy không?
- Có chứ, cháy thì con hoẵng mới chạy ra chứ.
Ông Vừ ngoằng tay ra sau, lấy hai đoạn nứa bỏ vào bếp. Lửa cao ngọn ngần ngật. Đám tàn đỏ ngoằn ngòeo đuổi nhau lên mái gianh. Có con gì đang giãy giãy. Đỏ rực, mờ nhòa rồi lại đỏ rực. Nó sắp rơi xuống đầu…
Cháy! Cháy! Hạ vụt lao ra. Ông Vừ theo phản xạ cũng chạy. Đến sân ông dừng, ngoảnh nhìn vào bếp. Lửa không còn, mấy đoạn nứa lúc nãy thành những khúc tàn bềnh bệch.
- Thầy giáo bị con ma rồi. Sang nhà tôi uống rượu nốt đi.
Hạ ngoan ngoãn theo ông Vừ.
* * *
Nhà ông Vừ có hai con ngựa, bốn con trâu, mười lăm con lợn thả rông…; mỗi vụ nương mang về chín mươi bao thóc, gần trăm bao ngô. Ông không phải trưởng bản, anh em họ hàng cũng không ai làm cán bộ… nhà cửa lại sạch sẽ đâu ra đấy. Công an lên “Ba cùng” ở nhà ông, thầy giáo lên vận động con em bản đi học buổi trưa uống rượu nhà ông. Người dưới thị trấn gặp người Mông xuống chợ, hỏi ở bản nào, bảo Pú Cáy thì hỏi lại: Bản đấy có ông Vừ chứ gì! Lập tức khoe ngay: Ừ nó vừa mua máy xát đấy, xát hộ mà, chỉ lấy cám lại thôi. Nó vừa cho vay ba triệu tiền tao mua tivi, mày đi xem cùng đi?
Hạ ở nhà ông Vừ.
Hôm ấy, buổi sáng cầm quyết định từ Phòng về Hừa Tang, hiệu trưởng Bằng nhìn Hạ một lúc rồi bảo: Trẻ đấy. Tốt. Về điểm Pú Cáy nhé. Hạ đáp vâng em đi đâu cũng được.
Hạ sang phòng hội đồng, vừa lúc trống ra chơi. “Ma cũ” nhao nhao đến xem mặt “ma mới”. Hạ bị lọt thỏm trong ánh mắt thương thương, cảm phục. Một anh kéo Hạ ra hè, nghiêm mặt nói nhỏ: Này chú có muốn ở trung tâm không? Anh ta xòe bàn tay, ngón cái vê lần lượt các ngón. Không. Mà ở trung tâm hơn được cái gì? Nhiều thứ trên đó… chú trẻ dễ chết lắm. Như là… Như là… Hạ thấy buồn cười, nhưng cũng ngẫm nghĩ một lúc rồi nói: Thôi em cứ đi theo sự phân công. Anh kia thở dài: Tưởng chú biết nhìn tương lai… nhưng thôi tuổi trẻ cần dấn thân, khi nào cần cứ xuống anh. Anh tên là Tình, giáo viên thể dục.
Hạ lên ngay trưa đó, cùng đoàn Pú Cáy đi chợ về. Đoàn có bốn người, toàn phụ nữ, ba người tầm bốn năm mươi và một cô bé khoảng mười tám mười chín. Hạ giới thiệu mình lên làm thầy giáo Pú Cáy, ba người có tuổi nhìn nhau chi pâu * rồi cười. Cô bé cũng cười, nói: Nó không biết tiếng Kinh đâu. Thầy giáo cũng không biết tiếng Mông thì làm sao? Thì uống rượu, thổi khèn, đi nương khắc làm khắc biết thôi. Cô bé nói, cái lúm đồng tiền hút hút như bông hoa chực lặn xuống đôi má trắng hồng. Hạ thấy lâng lâng, lúc trước phải chạy gằn, bây giờ nhẹ chân vẫn cùng đoàn. Nhưng hai người trẻ bị tụt lại sau từ lúc nào. Cánh rừng miên man, lạnh tối.
Ôi sông! Hạ kêu, chạy ào ra phía trước. Cô bé chạy theo… Chết, lăn xuống chỗ chết đấy. Hạ và cô bé ôm nhau, bung biêng. Mây trắng đang trôi, núi chạy vòng tròn, nắng hắt lên đuổi nhau về đường cầu vồng mờ xa.
Cú va chạm hoàn hồn xóa khoảng cách hai người. Hạ hỏi em có người yêu chưa. Cô bé bảo hai lần con trai bắt ngoài rừng không mang về nhà, không có con về mình. Hạ láng máng nhớ tục người Mông cướp vợ, vừa nãy mình cũng “cướp” trượt. Bất giác Hạ bẻ tay, những ngón tay kêu lốp nhốp. Cô bé đang kể sang chuyện nhà, bố em bảo không đứa nào cướp mày thì anh mày cướp ngô thóc lợn gà về cho bố. Rồi người ta đến cướp ngô thóc lợn gà, cướp lẫn cả mày. Hạ cười. Cô bé im lặng.
Tối hẳn thì về đến bản. Tiếng lợn gà, ngựa rùng chân...  hợp âm đòi ăn âm âm, nôn nao. Hạ đang định ngồi xuống một mỏm đá trước ngôi nhà to dài thì cô gái bảo: vào đây, ở nhà em luôn thôi. Không, phải đem giấy trình trưởng bản. Ô! Không phải đâu, cán bộ nào lên cũng ở nhà em mà. Cái váy đang sát mặt Hạ như có ma lực, Hạ đứng lên theo cô gái.
Hũ nút. Trong nhà tối hơn ở ngoài, tiếng đổ nước, tiếng cô bé véo von. Bếp lửa chợt bùng lên. Cô bé đang ôm mẹ, nói tiếng Mông, Hạ chỉ biết líu lo, hình như nũng nịu. Con chào mẹ, con tên là Hạ lên bản dạy học. Bà mẹ cười thay lời đáp. Cô bé giằng lấy hai ống bương vù đi.
Hạ muốn làm một việc gì, đang ngó quanh tìm cái chổi, thì một con lợn ịt ịt nhấp nháy mõm tiến vào bếp. Hạ đá nhẹ một cái. Bà mẹ quát một câu, nó ra, đuôi ngoáy ngoáy trong khoảng mông tối dần.
Cơm dọn xong thì ông Vừ về. Hạ hỏi nương nhà mình có xa không. Ông bảo sang nhà con trai thôi. Cô bé giải thích, anh trai mới mua xe máy, bố phải nói thay anh cho mọi người vui, nói xong bảo về có thầy giáo lên.
Ông Vừ không biết uống rượu, bảo con gái uống chúc thầy giáo đi. Cô bé ngần ngừ rồi uống liền hai chén. Hạ bắt tay, cô bé đang gắp, hai tay gặp nhau có cả đũa. Ấm nóng, tự nhiên thấy yêu yêu ánh lửa rập rờn trong đôi mắt đang cúi. Đôi đũa rơi cạch xuống mâm. Ông Vừ mặt rạng rỡ, nói thầm vào tai vợ.
Cho chơi với thầy giáo đi! Một người nói to từ cửa, bước vào ngồi xuống mâm. Hạ lễ phép giới thiệu mình. Người kia nói tôi tên là Mùa, trưởng bản, mong thầy giáo mãi. Hạ hỏi luôn về tình hình bản, lớp học. Mùa kể: Có lớp từ ba năm rồi, hai năm đói nhiều thì đi học nhiều, một năm no nhiều thì lại đi học ít. Hạ không hiểu, quên uống hỏi tiếp luôn: Nó đi chỗ khác học à? Không. Nó bận nương xa, nhiều ngô thóc trâu bò à? Không. Không nói đâu… Mùa thì thầm với ông Vừ. Hai người cùng nhìn Hạ. Cô bé nhắc tất cả phải ăn cơm.
Tối, Hạ không ngủ được. Người ê ẩm, cái chăn đơn, cô bé và bà mẹ giường bên. Thoang thoảng thơm cái váy, hút hút lúm đồng tiền, cách nói hồn nhiên thông minh. Ở bản, không phải ở bản? Có lẽ mình sẽ bắt đầu từ cô bé này. Ngày mai hai đứa đến từng nhà, nhà nào vắng thì tới nương, mình sẽ nói dưới trung tâm đi học nhiều, trồng rừng nuôi lợn gà bán nhiều tiền; con đi học về lại bảo bố mẹ làm theo sách, tiền lại nhiều nữa… 
Hạ thức dậy thì không thấy ai. Ngôi nhà năm gian mái như úp xuống mặt, tất cả các cửa đều đóng; nhờ nhờ tầng tầng bao, ngô một gian, thóc một gian, còn lại là bếp và ba cái giường. Đêm qua, không biết cô bé nằm bên trái hay bên phải. Hạ vòng tay, ngủ mê mình có thể lăn sang. Thật buồn cười, Hạ cấu vào đùi một cái.
Ăn sáng xong bằng ba bắp ngô luộc còn trong nồi, Hạ khoan khoái bước ra sân. Nhẹ nhõm và thoải mái; sương bắt đầu tan, dãy núi trước mặt vẫn còn những cái khăn trắng uốn lượn lên xuống; quả đồi dưới chân, một đàn dê đang ngớn lên đám xanh xanh cao cao.
- Anh là thầy giáo Hạ à?
- ….
- Tôi là Dia, anh trai Nhìa.
- …
- Tối qua anh có ngủ ngon không?
Hạ nhìn một người lạ. Mặt dài, mũi cao, đôi mắt nhanh nhẹn, nói tiếng phổ thông không ngọng, biết cả hỏi thăm xã giao… khác hẳn số đông người Mông. Dia bảo tôi là con trai thứ hai ông Vừ, nhà bên kia núi này. Tôi sang lấy cái băng hôm nọ cái Nhìa mượn.
Dia vào nhà, Hạ đi theo, đứng ở gian giữa. Dia leo qua đám bao ngô, ì ạch bốc ra xếp vào một lúc rồi quay ra, mặt lấm tấm mồ hôi bảo Hạ: Bố tôi về, bảo một chỗ bị dột nhé. Dia lên đến đỉnh dốc còn ngoái lại. Hạ thấy cái túi nilon đen, ở phố từ ngân hàng ra người ta hay xách? Không phải tiền, hình như hạt giống gì đó.
Gần trưa thì Nhìa về, Hạ nói nhà mình bị dột từ lâu, anh Dia biết, xếp lại bao. Nhìa bảo anh Dia khổ nhất nhà.
Hạ và Nhìa cùng nấu cơm. Hạ bưng rổ rau, cầm cái nồi, đưa cái thớt…Nhìa nhoăn nhoắt cái váy đằng trước. Loáng cái mâm cơm dọn ra, có mỗi hai người Hạ thoáng ngại. Hạ hỏi nương nhà mình xa không. Nhìa bảo nó không có nương xa. Sao nhiều ngô thóc, trâu lợn? Anh trai nó để chung. Nhìa gắp cho Hạ miếng thịt, rồi nói như sực nhớ: Mình uống rượu nhé. Hạ gật đầu. Hai đứa uống. Ba chén.. năm chén... không biết mấy chén nữa.... Rồi bằng bát, Nhìa giơ bát, đầu cụng vào Hạ. Hạ nhắm mắt ực; ngược lên, cái can trong tay Nhìa như dòng suối.
Hạ lơ mơ thấy mình trên giường, có vật gì rất nặng đè lên, lóa lóe đỏ và đen. Hạ cố nhớ nhưng không tài nào điều khiển được cái đầu. Lại thiêm thiếp, có cái gì lòa xòa vào mắt, rồi trơn trơn ươn ướt trên má, xuống môi. Hạ tự nhiên nhẹ bẫng, thấy mình ở chỗ đám mây có chiếc khăn quàng. Văng vẳng thì thào như xa như gần, có tiếng nói, đang rót xuống... Anh cướp em đi, không ai cướp em thì em cướp anh. Hạ vẫn đang uống rượu, nghe rõ tiếng ực. Ngọt mát chạy suốt sống lưng.
Hạ vụt ngồi dậy, đầu như búa bổ. Nhìa đang ngủ, đôi môi cười, cái váy hoa văn đỏ đen xệch sang một bên đùi.
- Có ai ở nhà không?
- Bảo thầy giáo mai thằng Sùng, thằng Bia đi học rồi?
Hạ láng máng là chạy ra. Chào hỏi, bắt tay, líu ríu. Những bà mẹ, tay nắm đứa to; tay vòng ôm đứa bé nép sau lưng. Những ông bố phóng xe máy băng dốc bay lên trời, vụt xuống mang về cả một ôm Tiếng Việt, Toán, bút, mực, thước kẻ...
* * *
Hôm nay lớp học được mười bốn trò, chỉ còn trống hai bàn cuối. Kết quả của đêm qua.
Hạ cùng với Nhìa. Đi hai đêm, thêm mười đứa; hai đêm nữa không thêm đứa nào. Hạ bảo hiệu trưởng sắp lên kiểm tra, biết làm thế nào. Nhìa bảo nó không đi là không, nói nữa nó tức, đánh đấy. Hạ loanh quanh, vò đầu, bất chợt hỏi: Hồi xưa thầy giáo làm thế nào trò đi đông? Không phải thầy giáo, cô giáo thôi... Nó đẹp lắm. Học trò đến xem, người không trẻ nữa cũng đến xem. Xem xong thì học, nhiều chuyện hay đến hết năm. Đẹp bằng em không? Hơn nhiều, chân không to thế này đâu, dài này, trắng này... Nhìa kéo váy lên. Hạ đỏ mặt, thấy mình đứng giữa, kiểu từ như ở phép so sánh.
Chiều, Hạ đang soạn bài, vừa ngẩng lên thì ngoài đầu dốc có hai người khiêng con lợn. Hạ chạy ra, họ tiến thẳng vào sân, đặt uỵch xuống. Hạ hốt hoảng nhảy lên, cái nanh quả chuối như với theo.
- Bắn được à?
- Không. Mang cho anh Dia.
- Anh Dia bắn được à?
- Không. Nó mua, người Lào bán. Nó bảo mang về cho thầy giáo. Nó còn đi, lâu nữa.
Hạ không hiểu, cho mình cả con lợn rừng này á? Nghe kể, vùng cao quí thầy giáo... Ngày thầy chuyển, cả bản khóc; người mẩu mật gấu, người dúm gạo nếp, người chẳng có gì thì cứ ôm lấy nấc lên. Nhưng đấy là ngày xưa, mộc mạc hồn nhiên. Hạ lại nhìn con lợn, lông như bàn chải sắt, mắt long lên đỏ ngầu. Nó hắt xoáy mặt Hạ, mày là thầy giáo quí hơn tao sao. Hạ rờn rợn nhưng không hết phấn chấn. Hai thanh niên đang rút cái đòn khiêng ra, Hạ định giúp một tay thì một người nói: Thầy giáo vào đun nước, cắt tiết để bọn em. Hạ vào đun bếp, quay ra thì thêm ba người nữa đến.
Tiếng hộc, tiếng éc, tiếng quát, rồi tiếng cười nói chật cả sân. Tối hẳn thì cả bản có mặt. Người mang lá chuối về, người bê rổ thịt rải giật lùi, cái mâm dài mãi ra. Chỉ có hai món, luộc và canh; mùi thịt thơm lựng, mùi mồ hôi khét khét chua chua và ồn ào. Hạ lóng ngóng, đứng chỗ nào cũng vướng.
Hạ quắt bụng, rít miệng không biết bao nhiêu lần. Dễ đến mười giờ đêm thì Dia mới về. Dia vẫn để mũ bảo hiểm, oang oang: Hôm nay tôi có con lợn mời cả bản ăn. Ăn mừng thầy giáo về bản ta, ở nhà tôi. Lắng nghe, những đôi mắt, cả cái mồm đang uống. Hạ thấy mình quan trọng, cảm giác gì như chú rể... tự nhiên Hạ lẩn ra sau. Bắt được rồi, tay Hạ và Nhìa đã trong nhau. Đám người lảng ra, Hạ nhìn Nhìa, khẽ rút tay nhưng chặt quá.
Uống, ăn, nói chuyện. To như hú gọi từ nương này sang nương kia. Hạ ù ù đi chúc, thấy tai bừng lên, tiếng Nhìa: Để em uống hộ cho. Hạ gật đầu nhưng vẫn uống, thời gian ở đây đủ để Hạ biết rằng nếu không muốn thất bại thì cứ thật thà, hết mình. Mười chén, Hạ qua đỉnh, tỉnh. Bao nhiêu gương mặt quen, bao nhiêu gương mặt lạ, những học trò. Cả những đứa không đi học cũng ở đây, chúng ngồi bên bố mẹ. Hạ đến, không bỏ qua một dịp vận động. Hạ nói... hình như là rất hay. Cô Nhìa, ông Vừ, anh Dia yêu thầy giáo rồi thì tôi cho con đi học. Anh Dia cũng bảo rồi, thầy giáo đẹp quá. Hạ nghe rõ câu này, như thế là ổn, hiệu trưởng ơi, mai chú cứ lên kiểm tra đi, đảm bảo chỉ có khen.
Hạ không biết mình uống bao nhiêu nữa, rồi đi ra ngoài lúc nào. Gió lạnh lèm lẹm, người mỏng như chiếc lá. Chiếc lá đang ngồi trên mỏm đá đầu dốc. Tiếng uống rượu vẫn còn, à à âm âm mơ hồ như nghe tiếng chợ quê xa. Dia, khó hiểu? Anh này nắm giữ cả bản hay ít ra cũng là thủ lĩnh tinh thần. Nhìa, như không phải người Mông? Hình như một công chúa nào bị quỉ vương bắt cóc... và ta một hoàng tử nhà   vua sai đến. Kinh quá, Hạ không dám nghĩ tiếp.
Vừa nghĩ đến Nhìa thì Nhìa ra. Ập luôn xuống Hạ khóc. Hơi rượu, mùi con gái, ấm nóng bàn tay. Hạ đưa tay lên mái tóc Nhìa, xuống lưng đang rung lên.
- Anh Dia em tốt quá. Anh và em chưa biết cách nào thì anh đã bảo rồi. Chắc chắn mai bốn đứa kia sẽ đi học nốt. Hạ riết Nhìa vào lòng.
- Chủ nhật này anh chuyển sang lớp học ở đi.
- Sao? Hạ đứng lên. Nhìa ôm chân Hạ, tiếng sụt sịt rung rung bên dưới.
- Em không nói nhưng anh cứ chuyển sang lớp học đi.
- Không nói. Em không nói thì anh về uống rượu nữa cho chết này.
- Đừng. Em nói đây này... Em có con trong bụng rồi.
Hạ đổ xuống. Cái tay gặp bụng Nhìa.
Thứ bảy, Hạ nói với ông Vừ việc sang ở bên lớp học, tiện cho học sinh đến. Ông Vừ bảo cái chái hồi trước cô giáo ở, giường gãy rồi, nhiều mùi rừng về lắm. Hạ nói tiếp, con sẽ lấy cây làm lại giường, trát chỗ vách thủng, đốt lửa mấy đêm là phòng thơm. Ông Vừ vẫn lắc đầu: Không được, mày đi tao ghét mày. Hạ cắn hàm răng, sịt một cái. Nhìa nói hộ: Cho nó sang ở, con sang nấu cơm cho nó. Nó ngồi soạn bài, nghĩ được nhiều, dạy được nhiều. Ông Vừ im lặng, nhìn Nhìa nhìn Hạ như tìm cái gì. Nhìa lại tiếp: Nó bảo hôm nào cán bộ lên nó vẫn về uống rượu. Nó làm con của nhà mình rồi mà. Ông Vừ đứng dậy, đi đi lại lại, nhìn những bao thóc bao ngô; rồi ông bảo: Phải hỏi thằng Dia đã. Không, bố cứ cho đi, bố cho đi. Nhìa có vẻ hốt hoảng.
Hạ và Nhìa đành đợi đến tối Dia sang. Nhưng tối nhà lại có khách, hai thanh niên hình như từ thị trấn lên. Lâu ngày gặp người Kinh, Hạ hỏi han chuyện trò phấn khởi. Nhìa ngồi sau Hạ chốc lại với tay rót nước. Một người hỏi vợ à. Hạ cười bảo chưa, đang ở rể. Biết Hạ là thầy giáo, họ nhờ nói muốn mua ngô thóc. Nhìa đi gọi bố, ông Vừ về giãy nảy: Của thằng Dia để đây, không bán đâu.
Tuần ấy, Dia sang một lần, rồi cả tháng sau không đến. Thỉnh thoảng người bản đến, Nhìa lại trèo lên đống bao, xúc cho mỗi người lưng lu cở.
Lớp học dạo này đủ, mùa nương mà chẳng đứa nào nghỉ. Thỉnh thoảng Nhìa lên xem, Hạ bị cảm giác “giáo viên dự giờ”. Hạ không dám nhìn ra, dính chặt vào cái bảng. Lúc ngẩng lên thì Nhìa đang về, hình như người ngả về sau.
Mùa nương người đi nương nhiều, ăn nhiều, đều đều đến nhà lấy ngô mỗi tối. Một lần Nhìa trèo lên xúc bị ngã, máu chảy xuống chân. Hạ bế lên giường máu vẫn ra. Người người bổ lên rừng mang lá thuốc về, suốt đêm giã giã đắp đắp. Mấy hôm sau Nhìa dậy được bảo Hạ: Con bị ra đường ngã rồi.
Mùa nương xong, mưa xuống thì đống ngô trong nhà còn chín bao. Học sinh bắt đầu nghỉ hè. Hạ xin ông Vừ về thăm nhà. Ông Vừ hỏi có cho con Nhìa về chơi không. Hạ bảo Nhìa còn yếu, đi đường sợ ngã nữa.
Buổi tối chia tay, Dia tự tay mổ hai con lợn bé, lại uống rượu. Lần này Hạ nói trước: Cảm ơn dân bản cho con đi học đều. Cháu về nhà thăm bố mẹ, tháng 9 lại lên.
Đêm ấy, Hạ uống mãi mà không say. Hạ cầm chén đi hết vòng thứ ba, sang vòng thứ tư... Hạ nâng chén lên, tay bị giật giật, đôi mắt Nhìa như van xin. Phải rồi, Hạ muốn uống để quên. Mai về, có thể là sẽ không lên bản nữa, Hạ sẽ xuống gặp Tình giáo viên thể dục, cần thiết sẽ ra huyện trực tiếp trưởng phòng.
Dân bản đã say hết, người nằm, người đổ lên nhau, rải đều ba gian nhà, ông Vừ, Dia ở hai đầu mâm. Và, Nhìa chợt nhô lên. Hạ đang bước chân ra cửa thì nhìn thấy.
Hạ ra mỏm đá, Nhìa nhẹ đến, ngồi sát. Không ai nói gì cả. Mưa lắt phắt, tiếng nai tác xa xa...
Ngày mai thế là cũng đến rồi. Hạ đi như chạy, chợt loang loáng câu thơ hồi học cấp III “Người ra đi đầu không nghoảnh lại”. Gió vù vù, Hạ biết là tự mình làm ra.
* * *
Nhìa ôm bụng khóc suốt ba tháng hè. Càng khóc bụng càng bé đi. Ông Vừ chỉ nhìn. Dia mím môi, gật gật đầu nói: Khóc làm gì! Đúng mồng 3 tháng 9 thì nó lên.
* * *
Tối mồng 3 tháng 9, Hạ lên thật.
19 tháng 11 năm đó, Hạ Nhìa làm đám cưới. Ngoài cả bản, có đủ hiệu trưởng, hiệu phó và ba mươi giáo viên Hừa Tang lên dự. Rượu say, lúc về mỗi người vẫn mang được nửa bao nếp tan. Nhìa ra tiễn đến đầu dốc. Hạ đến tận đỉnh bên kia. Chú ở lại cố gắng nhé, Hiệu trưởng nói. Hạ rơm rớm nước mắt: Sau này con em cho xuống trung tâm học, lúc ấy chả biết anh còn hay nghỉ hưu. Hạ vù chạy, nước mắt rơi từ đấy đến chỗ Nhìa.
* * *
Cháy rồi. Đám lửa xoáy một khối tròn tròn. Bùng lên, lách tách những hoa văn đen đỏ. Nhìa xuống đi, nhảy ra đây! Lửa vẫn bùng bùng, như Nhìa làm bằng xăng. Hạ lao vào, gào thét, giằng giật.
Hạ mơ suốt. Chín tháng mười ngày sau thì hết.
Khi cái Nhài 6 tuổi, những trưa gió Lào, Hạ hay kể... Nhài hỏi: Sao bây giờ bố không mơ nữa. Hạ bảo: Bây giờ toàn rừng của bố mẹ, mọi người trồng, cháy không có tiền mà đền đâu. Thì con đi trồng trả, thì bác Dia cho. Bác Dia làm chủ tịch xã rồi, không cho anh em được đâu. Nhìa đứng nghe hai bố con nói, nước mắt đến gò má thì quay đi.
-------------
* Tiếng Mông: Không biết.

Read More..