Tìm kiếm Blog này

Hiển thị các bài đăng có nhãn PHÊ BÌNH -GIỚI THIỆU. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn PHÊ BÌNH -GIỚI THIỆU. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 26 tháng 11, 2016

Bay lên từ Pú Khớ, 
Tác phẩm mới của Du An

(Đọc “Xuống phố”, tập truyện ngắn của DU AN - Nxb Kim Đồng, 2016)

TRẦN ĐỨC TIẾN

Du An sinh ra ở miền xuôi, nhưng có nhiều năm sống và làm việc ở Điện Biên, Lai Châu, nên văn chương của anh khá tự nhiên, nhuần nhuyễn khi chạm đến đề tài vùng cao.
(Bài đã đăng trên zing.vn, nxbkimdong.com.vn)


          Bối cảnh miền núi thì rõ rồi: núi non, rừng rú, nương rẫy, bản mường... Nhân vật chính là những đứa trẻ người Thái, người Mông, người Kinh… Nhưng phong vị miền núi, hay nói nôm na là cái “chất” miền núi trong tập truyện của Du An không phải vay mượn từ tên đất, tên người, quần áo, cách ăn nói, đi đứng… mà thể hiện khá đậm nét qua tâm lý, tình cảm, cách hành xử của các nhân vật. Một thứ miền núi chân thật, mộc mạc, dễ thương, không giả bộ “làm hàng”. Tác giả sinh ra ở miền xuôi, nhưng có nhiều năm sống và làm việc ở Lai Châu, Điện Biên nên văn chương của anh khá tự nhiên, nhuần nhuyễn khi chạm đến đề tài vùng cao.
          “Mỗi khi viết cho thiếu nhi, tôi hoàn toàn thoải mái đầu óc, lâu lâu mê đi, tự nhiên cười hí hí như bọn chúng. Khoảnh khắc ấy, tôi sung sướng biết mình là bạn của các em rồi… Viết cho thiếu nhi là cùng các em “chém gió”, nghĩ suy, mong muốn. Các em chỉ thích, chỉ đọc những gì hợp với tuổi của mình, tự nhiên, trong trẻo”… Du An từng bộc bạch tâm sự như vậy. Ý thức rất rõ về sự hồn nhiên trong tâm hồn trẻ thơ nên truyện của anh bình dị, đời thường, vui hóm cả khi nói về những gian khó thiếu thốn, tránh xa giáo huấn, áp đặt. Học trò đi trọ học. Học trò đói quá ăn trộm gạo của bạn. Bạn bè giúp đỡ nhau lúc khó khăn. Tình bạn gắn bó khi chia tay. Con rắn ngoài đồng. Con gà nuôi vã. Mơ ước được đi máy bay… Tất cả những gì nghe thấy, nhìn thấy, trải qua hàng ngày ấy đều có thể trở thành đề tài truyện ngắn của Du An.
          Đây là cảnh ba cậu học trò trên bản xuống trọ học ở thị trấn: “Buổi tối đầu tiên ba thằng đều nhìn cái bóng điện. Cái bóng điện cũng nhìn ba thằng - vải áo láng đen ánh lên, tóc hoe hoe vàng cũng ánh đẹp. Nếnh giở hết mọi thứ trong lu cở bày ra giường. Túi gạo, gói thịt khô, hai bộ quần áo, quyển vở, cả con dao bao gỗ. Mua nhìn Nếnh làm cũng làm theo nhưng chỉ có mỗi túm gạo thì hết. Sùng giống như Mua nhưng có thêm ba tờ tiền hai mươi nghìn, một tờ mười nghìn” (Hua Nậm ở thị trấn). Rảnh rỗi không biết làm gì, đem “tài sản” ra kiểm kê như thế xem ra có vẻ hơi lẩn thẩn. Nhưng hóa ra ba thằng đang cố tìm cách lấp liếm đi nỗi nhớ nhà, nhớ bản...
          Học trò thiếu gạo, bụng đói: “Chữ CHÁO hiện về làm tất cả các bụng kêu èo èo / Tao đói quá chúng mày ạ. Trong bụng như có con gì gặm cồn cột ý - Anh Tủa mặt nhăn, mắt nheo, tay ôm bụng / Hay là còn bát gạo mình nấu cháo nốt - Thằng Bia nói, giọng rất vui / Không… không… không được. Mai ăn bằng gì? - Mua kêu lên rồi giang tay, lùi lùi về phía túi gạo” (Hai lần là một lần…).
          Gian khó, thiếu thốn, phải “kiểm kê” chắt bóp từng đồng xu hạt gạo như thế, nhưng những giấc mơ vẫn bay bổng. Đây là mơ ước được một lần đi máy bay của trẻ con bản Pú Khớ: “Chao ôi, lúc ấy đỉnh núi gọi máy bay bằng cụ. Mây trên cao thấy bảo là xanh lắm, dễ chịu lắm. Xanh, dễ chịu là phải. Bao nhiêu sông suối, cánh đồng, khu rừng bay lên nước mát màu xanh. Mình ở sông ở suối, ở rừng mà chả bao giờ được ngắm nó đầy đủ đầu mình chân tay… Cả Pú Khớ bay lên. Tận cùng rừng xanh, tận cùng mây trắng. Pú Khớ đang gặp giấc mơ. Thật nhiều giấc mơ ban đêm thì sẽ đến giấc mơ ban ngày. Đi nữa, bay nữa” (Máy bay lên Pú Khớ).
          Bọn trẻ trong truyện trở nên đáng yêu hơn, văn Du An đem đến cho người đọc nhiều bất ngờ thú vị hơn, chính là nhờ những trang tươi tắn, mát xanh như thế.
          Theo tôi, có ba truyện làm cho cuốn sách đầu tiên của Du An ra mắt người đọc thêm phần chững chạc và hứa hẹn những vượt trội sau này của tác giả. Ba truyện, giống như ba cuộc “thử nghiệm” và ít nhiều đã thành công.  “Con dao sáng mồng một”: hiện thực, cảm động, một ví dụ ngắn gọn và thật hay về tính cách người miền núi - thật thà, trọng chữ tín. “Máy bay lên Pú Khớ”: hiện thực đã được bay trên đôi cánh của tưởng tượng, trở nên nhiều vẻ hơn, lung linh hơn. Đọc truyện này bất giác nhớ đến V.M. Shukshin (1929 - 1974), nhà văn Nga có biệt tài khắc họa chân dung tinh thần người dân Nga ngây thơ, hồn hậu bằng những chi tiết thật tinh tế. “Chuyện từ lửa khói”: giống như một cái cây phát triển mạnh mẽ mà hiện thực chỉ còn như lớp vỏ mỏng bên ngoài. Tưởng tượng tối đa. Phấn hứng cao độ. Lạ và cuốn hút. Những truyện viết theo kiểu này còn rất hiếm trong văn học dành cho thiếu nhi của chúng ta.

Gấp sách lại, người đọc còn có thể nhận ra: tất cả những đứa trẻ miền núi của Du An, một cách vô thức, đều có xu hướng muốn “xuống phố”. Không phải là từ bỏ cái nơi đã sinh ra mình, mà là khát vọng vươn tới ánh sáng, vươn tới những gì văn minh, tốt đẹp ở phía trước. Những khát vọng rất đáng được cảm thông, chia sẻ.

25.10.2016

T. Đ. T
Bạn đọc mua sách tại các nhà sách Kim Đồng trên toàn quốc;
Mua online tại một trong các địa chỉ:
http://www.nxbkimdong.com.vn/products/product/view/21/11234.html
http://www.fahasa.com/xuong-pho.html?attempt=1              
Xuống phố vinabook
Read More..

Chủ Nhật, 16 tháng 8, 2015

"Bầu trời trong tầm với của Du An" (Sách mới)



“Thanh bỏ ra ngoài xuôi dốc, rồi ngược dốc.
Mệt, thấy mệt thì đã đỉnh đồi. Gió thật mát.
Thanh nằm, ngửa mặt lên trời, Giơ tay như túm lấy trời.”

Lúc hồn nhiên, lúc thâm trầm, lúc tinh tế, lúc trần trụi, Lên cao thấy trời thấp thật giống như cuốn nhật kí của những giáo viên miền xuôi lên công tác vùng cao. Đó không chỉ là những bài giảng trong mùa đi nương, không chỉ dừng lại ở những đêm vượt dốc vận động các em đến trường. Đó còn là những khát khao, những suy nghĩ trong góc riêng tư của các thầy giáo, cô giáo, bị cuộc sống xô bồ miền xuôi khỏa lấp đi chỉ trực bùng nổ khi trái tim họ lơ lửng trên triền núi cao vời vợi. Du An để những nhân vật của mình bộc lộ tâm hồn một cách thật nhất, thật đến vô tư, thậm chí là trần trụi. Cuộc sống dưới gầm trời trong mắt nhà văn là một sự hòa hợp thú vị giữa những miền văn hóa khác nhau, đan xen giữa những trái tim của các nhà giáo miền xuôi với đồng bào nơi rẻo cao, nó thoắt ẩn thoắt hiện trong từng câu chữ rắn rỏi.
“Tôi ngồi trước tờ giấy trắng. Em ở đâu? Nghĩ ra cái tít rồi, vẫn không dám đặt bút. Tôi thấy dòng chữ trên khoảng không. Một chàng trai, không một trái tim khao khát yêu thương đang dò dẫm, con đường mới mở, đất đỏ bết. Có tiếng chào ông đi đâu. Giọng nói trẻ trung cất lên trong nắng mai: Tôi đi tìm hạnh phúc. Tiếng xích líp reo vang bình minh. Chòm râu bay bay…”
Tên sách: Lên cao thấy trời thấp thật
Tác giả: Du An
Thể loại: Truyện ngắn

Khổ sách: 13. 20,5
Read More..

Thứ Ba, 14 tháng 5, 2013

Du An, một bước ngoài khung từ những liên tưởng vụn





HOÀNG CHIẾN THẮNG


Có trường liên tưởng làm người ta bực mình, bên cạnh đó lại có rất nhiều liên tưởng, dẫu vụn lại khiến người ta giật mình... văn chương mà để người đọc nảy sinh tâm trạng đó thì đúng thật hiếm lắm. Xưa nay, tôi vốn rất ghét phải khen một ai đó, chẳng phải ích kỷ, hẹp hòi, song quả thực, để khen đãi bôi cho có thì quá bằng “khen cho nó chết” (chữ dùng của nhà văn Nguyễn Khải) vậy nào có khác gì ghét bỏ thù hằn mà làm hại nhau vậy.
       
Một bước cũng là đi
Với Du An, có lẽ là trường hợp không nhiều khiến tôi đặt bút, cũng bởi một phần vì tôi không phải nhà phê bình chuyên nghiệp, có chăng thì cũng chỉ dừng ở mức cảm tính hay tài tử... song, với Trước dấu ba chấm (...), Nhà Xuất bản Văn học ấn hành năm 2013 của Du An cùng một số tác phẩm khác mà tôi đã tiếp cận thì lại chẳng thể đừng cho đặng.
Phải nói ngay rằng, điều khiến tôi chú ý chính bởi cái sự khác, đúng vậy, khác lạ về tứ đã đành mà khác lạ bởi những liên tưởng vụn thì quả hiếm gặp, còn cả khác lạ về tính dục nữa. Thơ Du An rất thông minh, nhiều câu thơ khiến người đọc bật cười và đó là cái sự khác với những gì mặc định kiểu như, nói thịt thì nghĩ ngay là thịt lợn chứ chẳng thể nghĩ thịt dê, thịt vịt, thịt chó hay thịt bò ... và tôi tạm gán cho sự mặc định ấy là “cái khung của sự thói thường” để trên cơ sở đó tìm đến sự rung ngân của người viết, và thử lý giải về một người thơ.
        Sẽ có người bác bỏ những nhận định trên, có sao đâu, bởi đó cũng chỉ là nhận định mang tính chủ quan của cá nhân tôi. Và, quan trọng hơn cả, không phải tôi đang làm cái việc cố thuyết phục một ai đó đồng thuận với những gì tôi đang viết mà chính ở chỗ tôi đang nói lên từ những gì tôi thấy, tôi cảm, có chút ngỡ ngàng, có sự nể phục và quý mến cũng bởi, như tôi đã nói trước đó, tôi không phải nhà phê bình chuyên nghiệp nên tôi không bị lý trí lấn át trong những cảm xúc về thơ mà để sự mẫn cảm cùng trực giác dẫn dụ.
        Có người bảo, rằng thì anh là người miền núi, hay chí ít anh sinh sống ở miền núi thì anh phải có cái chất, cái giọng của núi, có cái nhìn xanh sắc lá, có nhịp đập hòa với cỏ cây, muông thú, thác ghềnh... thì khi đó cái anh viết ra mới bản địa, mới đúng ngữ cảnh, kiểu như đang ăn thịt chó thì không được nghĩ đó là thịt cừu chứ đằng này lại đành hanh, ngoa ngoắt, sao thế được... chẳng giống tính cách người miền núi chút nào. Chính nếp nghĩ đó, cái lề đó, cái thói thường phải thế... đó mới tạo ra trăm bè như một, trầm thì như nhau mà cao thì cũng hệt.
        Một bước ngoài khung, chính là sự vượt thoát ra khỏi “cái khung của sự thói thường” mà làm một Du An hiện sinh. Thoát ra được cái thói thường là vứt bỏ được cái tôi khái niệm để Du An là Du An chứ không phải là Du A, Du B, Du C hay Du X, Y cờ rách nào khác! Nghĩ thì dễ mà làm thì khó lắm lắm. Bởi khi đó anh sẽ bị cho là bất thường, bị chiếu bởi hàng trăm đôi mắt khác và bị quay lưng, nhếch mép kiểu “văn chương gì nó”. Ai cũng hiểu, người viết không làm nên tác phẩm, chính đối tượng tiếp nhận mới làm nên tác phẩm và đưa anh ta trở thành nhà văn, song khi lựa chọn theo hướng khác biệt, dị thường thì rõ ràng đối tượng tiếp nhận của Du An đã bị thu hẹp và khu trú trong một phạm vi nhất định. Vậy điều gì khiến Du An quyết tâm là Du An, phải chăng bởi quan niệm, có một độc giả thực sự đúng nghĩa kiểu Bá Nha - Chung Tử Kỳ thời Xuân Thu Chiến Quốc thì ắt phải hơn bạt ngàn những con người “thói thường”? Vậy thì rõ rồi, dù sao đã nhấc chân, nửa bước, một bước hay một chuyến cũng là đi. Và tôi thấy Du An đã đi như vậy trên hành trình thơ của mình.

Khước từ “cái khung của sự thói thường”
Khảo sát thơ Du An chúng ta sẽ tìm ra câu trả lời cho câu hỏi điều gì làm nên sự khác biệt? Từ những bài thơ được đăng tải trên Tạp chí Văn nghệ quân đội, Tuần báo Văn nghệ, và các diễn đàn văn học khác và ngay trong tập thơ mới nhất Trước dấu ba chấm (...) (đối tượng khảo sát chủ yếu  của chúng tôi trong bài viết này); điều mà chúng ta nhận thấy rõ nét và có hệ thống hơn cả chính là những liên tưởng vụn trong thơ anh, tôi gọi đó là những liên tưởng vụn, bởi nó vụn theo đúng nghĩa, giống như lối phân mảnh trong nghệ thuật viết truyện ngắn, song liên tưởng vụn ở đây còn vụn hơn nhiều. Nếu lạm dụng trào lưu, thì có thể coi đó là sự đập tan, vụn vỡ kiểu giải trung tâm của Hậu hiện đại, hay có gì đó của Đa Đa, nhặt ghép ngẫu nhiên nên thật vụn, vụn lắm, thậm chí chẳng ăn nhập gì nhưng nó vẫn là thơ thậm chí là rất thơ... thì liên tưởng vụn tưởng ngẫu nhiên ấy lại đã là chủ ý và chính điều này đã làm nên sự vượt thoát khỏi “cái khung của sự thói thường”.
        45 bài thơ thì ý tứ, những liên tưởng đều vụn, cảm giác giống như con nước bập bềnh với vạn ngàn cánh hoa bung vỡ nổi nênh, vụn đấy, chi tiết là vậy nhưng tổng thể thì đó là một thảm hoa, đúng vậy, một thảm mềm mại lung linh, chính cái thảm mềm mắt mềm môi, chính cái lãng mạn, trác tuyệt ấy lại được làm nên bởi những mảnh vụn, nghĩ vậy, thấy vậy thì thật tài lắm lắm.
        Giở ngẫu nhiên, bất kì bài thơ nào trong Trước dấu ba chấm (...) đều có thể thấy được những bài thơ, khổ thơ với những liên tưởng vụn, thậm chí vụn trong từng câu, kể mà cũng lạ, ví như Bụi chó đẻ bên đường: Một mùa mưa xanh mướt/ một mùa mưa bị ong đốt/ nở hoa ra để chấm hết/ một năm xanh/ Hở ra một chiêc dép/ một khoảng tròn tròn như mông con gái/một quả còn/ cách một tầm tay với/ Hở ra một con dao quắm/ trồi lên một đồng tiền xu/ cả tiếng nói/... thóc hôm nay năm nhăm cơ/ Thầy cô giáo đi vào/ đoàn gánh củi đi ra/ mấy bà hàng sáo đứng dậy bỏ gốc mít/ ngô thóc còn tít đằng xa/ Con ngựa hí không chịu/ cái đồng hồ chân đi/… thêm một vật nữa làm chi.../ Năm nay chưa đứa trẻ nào đốt/ cuối chạp rồi/ bụi chó đẻ có tự nẩy mầm được/ mùa xuân lội suối sắp vào tới nơi. Chỉ là một bụi chó đẻ với vòng đời theo quan sát và kinh nghiệm: bật mầm, xanh non, nở hoa, tàn lụi, đốt, tiếp tục bắt đầu cho một chu kì mới mà Du An cứ đi nói tận đẩu đâu, tưởng như chẳng liên can gì, ấy vậy mà có, ấy vậy mà nên, vòng đời thì ngắn, còn vòng người liệu có được bao năm? Rồi cũng thở dài, rồi cũng tất bật và nhoắng nhoằng, thời gian “chân đi” thêm làm chi cái thứ đếm chỉ làm thêm xót ruột, xót lòng, thì đã đành ai chẳng sinh ra để chết, có hay không để rồi cũng hết để mà lại luân hồi, tái sinh; hay như: Anh với em như tia chớp/ xoẹt nhau trên mái tóc/ không ai cười, không ai khóc/… chẳng còn đống củi mà đi đậy/ lâu rồi không xem ti vi dự báo thời tiết (Khi mùa mưa đến). Nội trong một khổ thơ, đã thấy có những liên tưởng vụn, lướt trôi, lia nhanh như thể ống kính, một thủ pháp trong điện ảnh. Đang lãng mạn, man man bỗng dưng ụp cái nhảy ngay sang liên tưởng thực, cụ thể đến ngạc nhiên, đến bất ngờ, giống như chiếc bánh đa nhúng nước, phần nhúng thì mềm mà phần khô thì giòn gẫy. Chớp đấy là chớp nào? Chớp từ ánh mắt hay từ trái tim hận thù oán thán để nỗi xoẹt nhau cái nhìn lên tóc lạnh tanh không cười không khóc; đang thế, ấy mà người viết đã lại nghĩ ngay đến cơn mưa thực rồi liên tưởng như một phản xạ “chẳng còn đống củi mà đi đậy” rồi nhảy sang kiểu tự trách mình “lâu không xem ti vi dự báo thời tiết” như thể lên đồng, đang nói nhảm vậy. Song giải mã những liên tưởng vụn này lại thấy có sự gắn kết. Và thực tế, vụn ấy chỉ là đánh lừa người đọc bằng cái vỏ ngôn từ, bởi thẳm sâu, sau bóng chữ, liên tưởng có vụn đâu, vẫn một mạch thống nhất đấy chứ! Này nhé, “chẳng còn đống củi mà đậy” phải đâu nghĩ chớp thì mưa mà đó hẳn phải là chớp của tắt nguội lửa lòng, là sự tức giận hay đại loại thế. Và bởi đó nên chớp ấy ắt phải nảy sinh từ cái sự “chẳng còn đống củi mà đậy”, đó là khi đã tan vỡ, đã không còn gì phải tiếc nuối, gìn giữ, chẳng còn gì luyến lưu. Cơ mà lạ, thật lạ, ấy mà cũng nói được, ấy mà cũng khiến người đọc phải căng óc mà đoán mò. Biết đâu Du An lại chẳng đang xem dự báo thời tiết mà liên tưởng quáng quàng vậy! Ai dám chắc là không? Hay như đây: Thèm như đứa trẻ thấy người lớn tài thật/ lại sợ người lớn 1+1 mà cũng hỏi bằng bao nhiêu/ vô lý có lý chung một cái chăn/ đắp vào thì nóng, bỏ ra thì rét... Và nữa: Có lúc tự hỏi nếu không có tiếng rao Hà Nội sẽ ra sao?/ đêm ngủ mê mỗi người mỗi phòng ai đến gỡ tay ra khỏi ngực... Cũng vẫn là kiểu liên tưởng vụn, song lại là một chuỗi đồng nhất, ấy rằng, nếu không có tiếng rao, Hà Nội mỗi người mỗi phòng, nhẹ vía chìm vào cơn mê, ai đến lay dậy bây giờ, và tiếng rao là ân nhân, tiếng rao như thánh thần, là thuốc tiên kéo người ta trở về thực tại, vùng thoát khỏi cơn mê những tưởng sẽ cứ vậy rồi thế kéo ta đi.
        Thơ Du An lạ, bảo kiệm lời thì cũng phải mà dài thì cũng đúng, và thậm chí nhiều những câu đơn, không hề phức tạp nhưng ngữ nghĩa và ngôn từ được lựa chọn cộng với những liên tưởng vụn lại làm nên sự phức tạp và đó là sự phức tạp của khả năng tư duy ngôn ngữ, thì đó là một sự khác rồi, kiếm tìm làm gì mỏi mắt, ở đấy chứ đâu!
Bảo khác nhưng có hay đâu, thế thì khác để làm gì, thì đây, câu thơ hay đây: Tại sao em lại mua ngoài chợ/ một nghìn một bó mưa hay: Pú Khớ không hỏi ai... đến từ đâu.../ bảo uống rượu ăn cơm đi ngủ/ bảo yêu nhau thì ngồi với lửa... lúc lên miên man ngược suối/ lúc về dốc đuổi bàn chân/ em phanh gấp bằng đôi mắt/ anh còn lên đây nữa không và: con ôm mẹ mười ngày, mỗi ngày mẹ đi nghìn bước/ con chẳng thấy mẹ ở đâu mà chạy đằng trước. Rồi thì: Ếm về rồi, lạ đã thành quen/ có muốn ở Mường Nhà mãi không?/ cầm hộ em cái váy... mà bài thơ hay thì cũng nào có hiếm, đây: Lên Pú Khớ, Trước dấu ba châm (...), Nằm ôm mẹ, khi mùa mưa đến... thế thì gia tài thơ Du An nào có phải đâu ít thơ hay. Còn nhiều yếu tố khác khiến Du An làm nên sự khác biệt, và đều xuất điểm từ những liên tưởng vụn mà ra. Và sự rung ngân của người thơ này cũng rất khác lạ. Cùng lúc rung ngân hướng đến mọi chiều, mọi trạng huống, chi tiết, và anh  đã đưa cả vào thơ mới thành nên những liên tưởng vụn.

Và tính dục trong thơ Du An
Tính dục/ yếu tố sex trong thơ Du An cũng xuất hiện với tần xuất kha khá, và có lẽ hình ảnh thường thấy là cây chuối, lá chuối, khe nước... rất cổ điển song qua liên tưởng, qua những nhảy cóc của tư duy hay sự đập tan trong những liên tưởng vụn lại kết thành những cái khác lạ. Và như đã nói trên, cái vụn của Du An là cái vụn của sự rung ngân, kiểu như phàm đã thính tất nghe nhiều tạp âm, và lọc lại trong những tạp âm đó thì sẽ có sự hẫng, thiếu liên kết, rất vụn. Song ưu điểm, những thanh âm đã được chắt lọc rất đa dạng; có sự thanh, trong và gợi, mỏng mảnh, âm dồn, ùng oàng hay ri ri đều có cả. Ấy mới làm nên cái đa dạng trong mớ hỗn độn, và đó cũng lý giải cho cái sự vì sao liên tưởng vụn mà vẫn thấy hay, thấy đẹp thấy là thơ với nhiều lớp lang, thậm chí với ngay cả những câu đơn vẫn có sự phức hợp. Từ đặc điểm này, tính dục trong thơ Du An cũng không ngoại lệ, bởi đó là anh, là Du An hiện sinh, nên tính dục cũng được nói theo cách rất Du An. Người đọc không khó để tìm thấy những hình ảnh như này: Những cây chuối rừng mang trong mình khe suối/ chảy ngược vào đôi môi khát cháy/ những cây chuối tham gia giao thông/ cuộc hành quyết không ngoái lại/ bao nhiêu đùi con gái/ gào thét đứt phanh... những thân chuối trắng ban ngày không chịu bóc bẹ/ buổi trưa ấy hai mươi mốt tuổi/ buổi trưa này liệu có mai sau (Chuối rừng); hay như: Suối trôi dọc, em đi ngang/ và như thế chín bản trên về, mười núi theo khe ra may mắn/ sung sướng hợp lưu chật chội/ lách nhau đi va chạm lần lượt... mong suối chiều ngang dài hơn chiều dài/ nhưng suối sâu đến đâu váy em kéo đến đấy (Qua suối); và: những quả cà chua bị bắt quả tang nằm bên nhau hồng hào (Chợ đêm). Đôi khi lại là: Khát/ rễ bỏ qua cọc đi tìm trâu và bài ATM rõ nét hơn cả: Khe khẽ đút sự thật vào êm êm cuối tháng/ ATM nhớ ta vẫn thủ tục nghi ngờ... cuộc thanh toán nhấp nháy/ lập trình rồi cứ thế dắt nhau đi... se sắt vuông vuông/ òa ập đường chuyển khoản/ lúc em còn ngủ/ có nụ hôn bị ướt/ ATM anh vẫn màu vàng năm trước... nếu để kể ra thì còn nhiều, nhiều lắm... nhưng thế thì cũng đã là đủ. Còn những câu, những khổ khiến người đọc bật cười mà đau mà ngấm kiểu như Nhớ con lợn: Chục năm rồi máng cất đi kỉ niệm/ hôm nay con bị điểm 2/ bài văn tả con lợn có sừng, kêu zaza như siêu nhân /chục năm rồi lại nhớ con lợn. Hay như: không gặp được rái cá/ câu chuyện tiếp tục râm ran, tanh tanh/ nó bằng con bê, mồm ngoạm con cá trắm bằng bắp đùi...?/ ai cũng thấy và tranh nhau nói/ Rái cá không lên tiếng/ cứ mập mờ, xa xa/ chợt thương con mèo, con chó/ vừa meo meo gâu gâu đã ăn một cái đập (Rái cá).
Và nói gì đi nữa tôi vẫn giữ quan điểm, thơ Du An lạ với những liên tưởng vụn và hay. Dưng, bỗng nhớ lời của GS. Hoàng Ngọc Hiến dành cho Nguyễn Huy Thiệp khi nhà văn này mới xuất hiện trên văn đàn rằng: tôi không chúc bạn thuận buồm xuôi gió. Còn Du An, chắc anh cũng biết con đường thơ của mình chông gai thế nào!
H.C.T


Read More..