Tìm kiếm Blog này

Hiển thị các bài đăng có nhãn BÁO CHÍ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn BÁO CHÍ. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 14 tháng 12, 2014

Bài của Du An đoạt giải Ba, cuộc thi viết "Rừng là cuộc sống của tôi", do Tổng Cục Lâm nghiệp, Báo Nông nghiệp Việt Nam tổ chức, trao giải 28/11/2014.


BÀ LOAN RỪNG



  Để giữ được rừng, để rừng phát triển bền vững, theo bà Loan, đồng bào miền núi phải đủ ăn và có tinh thần cứng như đá.

 Bà Cà Thị Loan bên cây dổi 15 tuổi

Read More..

Thứ Năm, 9 tháng 5, 2013

Mường Phăng thích thú

(Thay lời anh bạn lần đầu đến Mường Phăng)


Tôi đến Điện Biên đã vài lần, nhưng chỉ là đi công tác, thời gian ngắn nên dù muốn cũng chỉ thăm thú chớp nhoáng những điểm di tích lịch sử ở trung tâm thành phố Điện Biên Phủ. Còn những điểm khác, nhất là Mường Phăng, Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ thì vẫn còn trong mơ.
Lần này, nhân đợt nghỉ 30/4, 1/5; tôi cùng anh bạn quyết định lên Điện Biên, đích đến cụ thể luôn là Mường Phăng. Từ thành phố Điện Biên Phủ, qua những cánh rừng mát mắt, những tràn ruộng bậc thang đường nét; những người Thái, Khơ Mú hồn nhiên… khiến cái máu nghệ sỹ của tôi được dịp trỗi dậy. Trước mắt; tôi sẽ có nhiều ảnh đẹp, hấp dẫn để về khoe với vợ con, bạn bè; và, sau này biết đâu những cốt, tứ của truyện, thơ sẽ tự nhiên nảy nở.
Đây rồi, đã đến “Rừng Đại tướng”! Rừng già, cổ thụ cao ngất, nắng sớm vừa nãy ngoài đường có vẻ hơi gắt mà vào đây chỉ còn ánh sáng mờ mờ nhẹ nhẹ. Dễ chịu vô cùng. Không khí mát mẻ bao trùm, có phần hơi lành lạnh như thời tiết ôn đới. Chúng tôi chầm chậm bước, có điều gì sâu lắng thiêng liêng trên tán lá tán lá rì rào, rừng cây dẫn dắt.
Đây, khu trung tâm Sở chỉ huy chiến dịch khiến cái tên Điện Biên Phủ trở thành một động từ quốc tế. Lán tranh, ghế cây rừng, hầm xuyên núi… thật đúng là chân đất mà làm nên lịch sử. Chúng tôi im lặng, ngẫm nghĩ, suy tưởng về những điều sách báo, tivi trong nước, quốc tế đã nói. Giờ tận mắt, tận làn da thấy những lán trại đơn sơ, vật dụng nhỏ bé của bộ đội ta… mới thấm thía tầm vóc to lớn của chiến thắng. “Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, cụm từ này, tôi nghe đã nhiều, thậm chí có lúc có khi như cảm giác sáo ngữ. Thì đây, tán rừng không nói, những âm thanh không lời cho một câu trả lời về tương quan lực lượng, về ý chí của cả dân tộc…
Tháng 5 là tháng Điện Biên Phủ. Ngoài phố các điểm di tích người đi quấn áo chen chân. Trong Mường Phăng đây, cũng nhộn nhịp núi rừng. Lối đi nhỏ nhỏ, người hàng một; đoàn lên, đoàn xuống nghiêng nghiêng tránh nhau; nụ cười, cả cái bắt tay như từ lâu thân thiết. Bạn tôi kể, trưa 1/5/2004, Mường Phăng bị tắc đường hơn 30 phút. Lúc đó, tôi không tin bởi non cùng rừng tận chứ đâu phải Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh… Nay thì tôi mong, bao nhiêu du khách đang lên xuống nói cười kia sẽ một lúc tụ lại như niềm vui chung một bó hoa.
Sẽ là rất thiếu nếu tôi kể về Mường Phăng mà toàn có núi rừng di tích. Những con người nơi đây thật chất phác, hấp dẫn. Đó là một cô gái Thái, hai chúng tôi gặp lúc trở về. Tại bìa rừng, chỗ trạm gác Sở chỉ huy, em chào chúng tôi và mời mua đồng bạc, mật ong. Trước đó, chúng tôi đã nghe những lời này nhiều… nào thuốc uống vào hết đau lưng, nào rượu ngâm chồng uống vợ khen, quả “sung sướng” ăn vào cả nhà vui… nên nghe em nói có phần không vào lắm. Nhưng phần vì mệt bởi cả chặng đường leo dốc, phần vì sắp phải xa Mường Phăng không biết bao giờ trở lại… nên có cuộc chuyện trò giữa chủ và khách. Em bảo nhà em ngay đây thôi, chồng làm ao cá, thỉnh thoảng đi bắt ong rừng; hai đứa con đi nhà trẻ, mẫu giáo; em dệt vải, thêu khăn, nắng ráo rỗi rãi thì lên hầm bán hàng. Em bảo mua cho em đồng bạc về đánh cảm, mật ong rừng Mường Phăng về uống tốt cho ăn uống, đường ruột. Em mời chúng tôi về nhà chơi với chồng, xem ao... và quả đồi hơn 2ha sau nhà định trồng trám hoặc cây ăn quả gì đó… Giọng nói, cách nói, từ ngữ, cử chỉ chả có gì là lơi lả chèo kéo; cứ hồn nhiên như nói chuyện với người bản mình khiến hai chúng tôi bị thuyết phục. Tôi mua hai đồng bạc và nói: “Anh chả cần biết đồng bạc này thật hay giả. Nhưng anh thích em hồn nhiên chân thật. Anh mua giúp, để kỷ niệm”. Em có vẻ ngại ngùng khi nhận tiền. Đã trưa trưa, anh bạn tôi mời em xuống “phố Mường Phăng” ăn cơm. Tôi không kịp “kéo áo” anh… Sao lại mời rơi, xã giao như thế! Tôi nghĩ chưa hết thì em đã bảo, em gọi cả chồng em nữa nhé. Em gọi điện, tiếng Thái, chúng tôi chỉ nghe bằng nét mặt, giọng nói. Rồi em, quay sang nói - Chồng em bảo em về nhà đã, rồi cùng đi.  Chúng tôi lấy số máy của nhau, hẹn tại quán; và giao ước, không được “lừa nhau” đâu nhá.
Tại quán… ở trung tâm xã Mường Phăng. Bàn ăn, các món đã xong xuôi; tôi bảo đợi, anh bạn bảo “thôi cứ chén đi, đi đường mời rơi mời rụng ai người ta đến”. Bạn tôi nói vậy, nhưng vẫn chiều tôi, cùng đợi. Mất mươi phút, chúng tôi ngắm măng đắng, cá nướng… thì vợ chồng em đến. Em rực rỡ - áo cóm, cúc bướm bạc, váy thướt tha (khác hẳn lúc nãy). Hai chúng tôi cảm động, ra tận đường bắt tay, mời vào.
Em rót rượu tự nhiên như ở nhà mình và giới thiệu chồng. Tôi giới thiệu mình và bạn. Nâng chén, cụng nhau “au hảnh”… câu chuyện cứ lên dần. Tôi và anh bạn thay nhau hỏi; về gia cảnh, về phong tục người Thái trên này… Anh chồng kể, hai đứa cùng hoàn cảnh nhà nghèo, không được học lên, hạnh phúc đến nhau là tự tay làm thôi. Em bảo, các anh biết Mường Phăng, biết vợ chồng em rồi, thì bao giờ lên nữa, “lấy” cả vợ con cùng thăm nhà, biết nhau tất cả.
Câu chuyện mỗi lúc càng đậm đà, chén rượu càng thêm ngọt ngào, bay bổng. Chúng tôi mời em hát, chồng em cũng động viên em cứ hát cho các bác nghe. Em nhìn trước nhìn sau như xấu hổ… rồi khe khẽ, rồi cao dần. Bài hát tiếng Thái như nói, như kể; tôi không hiểu lời nhưng thấy như có ruộng, có nương, nhà sàn, áo cóm thướt tha… Hai chúng tôi còn đang bay trong giai điệu thì em ngừng và “dịch”… Bài hát bảo, các anh đến thăm Mường Phăng, biết hầm Đại tướng; chúng em rất vui, chào đón; có gì không vừa ý các anh thì các anh đừng mang về nhà; các anh lên một lần thì lên nhiều lần nữa, bảo nhiều người, bạn bè, vợ con cùng lên…
Chợt em rót rượu phẳng đều các chén và trùng giọng nói: “Đồng bạc em bán cho các anh lúc nãy là không thật. Đồng thật thì đắt lắm, ít người mua”. Tôi sững người, một lúc mới nói: “… Nhưng tình cảm của vợ chồng em là thật”. Câu chuyện hết gợn ngay bởi tôi nói thẳng lại: “Bọn anh biết, nhưng vẫn mua vì thấy các em chân thật, vất vả. Thôi coi nó như một kỷ niệm, bọn anh chia sẻ với em”.
Câu chuyện có chậm chậm lên dốc một tí, rồi lại lướt lướt đầy men rượu, men người hồn hậu. Anh bạn tôi có điện thoại, tôi tủm tỉm cười khi anh khoe khéo, kiểu lợn cưới áo mới - Anh đang ở Mường Phăng, uống rượu với đôi vợ chồng người Thái, hay lắm. Dừng cuộc điện, nét mặt anh vẫn còn phấn chấn. Dường như Mường Phăng đã chinh phục anh hoàn toàn.
Tạm biệt Mường Phăng, đường về sao mà nhanh thế, dù chúng tôi đã cố đi chậm để khắc ghi những hình ảnh nơi đây mang về phố phường Hà Nội. Khi nghỉ tại một bóng cây ven đường, tôi hỏi bạn: “Anh thấy chuyến đi này thế nào?”. “Tuyệt vời, đầu nhẹ tênh tênh”. Tôi định nói với anh về năm trước, đến một bản văn hóa ven thành phố Điện Biên Phủ uống rượu. Cũng có các cô gái Thái nhưng uống rượu kiểu “mông cổ”, “khát vọng 1”, “khát vọng 2”; cũng có hát nhưng là … “Nếu không zô thì thôi đã zô rồi một trăm phần trăm”… thật quá thể. Tôi định vậy nhưng kìm lại được bởi anh và tôi đang có một Mường Phăng lan lan thích thú. Mường Phăng! Mường Phăng! Hẹn ngày trở lại mảnh đất lịch sử, hấp dẫn du khách bởi sự chân thật, mộc mạc, hồn nhiên.


Read More..

Thứ Hai, 1 tháng 4, 2013

Xay xúm Mường Thanh sang Mỹ


Ông đã từng sang Mỹ, hẳn mười hai ngày ở Oa sinh tơn…bao nhiêu người Tây tròn mắt ngưỡng mộ, bao nhiêu nhà báo quốc tế hỏi chuyện… Ông chỉ là một người Thái Mường Thanh; chân đất, sang “bên kia quả đất” để làm những việc y như ở nhà - Đan xay (lờ), đan xúm (nơm)…


Những ngày ở Mỹ
Ông là Cà Văn Cu, 65 tuổi, ở bản Phiêng Quái (xã Noong Luống, huyện Điện Biên). Gặp ông, sau gần tiếng xuôi con đường bên dòng Nậm Rốm, qua những thửa ruộng, tràn ao, cánh rừng xanh mát; trong ngôi nhà sàn, mái lợp broxi măng còn mới, ông kể: “Đan xay (lờ) ở Mỹ nhiều người thích lắm. Họ quây vào người xem, lúc đầu cũng hồi hộp; gài, bắt mấy nan đầu tiên xong thì bình thường như ở nhà. Người ta nhìn như ăn tay mình. Đan xong họ nhao tay, đưa cả trăm đô đòi mua; nhưng ban tổ chức không cho bán, tất cả đồ làm ra phải đem về bảo tàng lưu giữ”.
Ông Cu là một trong 40 nghệ nhân Việt Nam sang Mỹ tham gia Chương trình Mê Kông dòng sông kết nối các nền văn hóa, tại Lễ hội đời sống dân gian Smithsonian, tại Washington - Hoa Kỳ từ 27/6 đến 8/7/2007. Đối tượng được mời hẳn nhiên là cư dân sông Mê Kông - Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Mianmar, Cam Pu Chia, Việt Nam… Ngoài văn nghệ dân gian phụ trợ thì nội dung chính của lễ hội là - Các nghệ nhân ở mọi miền sông Mê Kông trình diễn cách làm dụng cụ đánh bắt thủy sản. Cùng uống chung dòng nước Mê Kông; cùng là bắt cá, bắt lươn, ba ba… mà mỗi nước, ngay cả nước mình cũng khác nhau. Người Thái Lan, Cam Pu Chia, người Nam Bộ mình đan cái chài to; cái lờ cũng gấp bốn, năm lần so với Điện Biên; cái hom, kiểu đan cũng khác... “Băn khoăn hỏi họ; họ bảo, sông rộng như biển thì cái bắt cá phải to thôi”. Ông Cu nói và lại gác bếp lấy cái lờ ra như để so sánh. Đó là chiếc lờ hai hom, kiểu nan bắt chéo, toàn bộ sản phẩm không thấy một vết nối; dù nhìn, sờ rất kĩ. Nếu đan phần thân riêng, hom riêng, rồi lắp vào như họ thì dễ nhưng như thế độ chắc chắn, cả đẹp nữa sẽ kém. Mấy ông Nam Bộ rất thích kiểu đan Điện Biên, họ bảo muốn học kiểu khó, cá xuôi cá ngược đều bắt được. Thời gian ngắn quá, tôi dạy một lúc, chắc họ về nhà cũng chưa làm được.
Trình diễn tại lễ hội ba ngày, ông Cu cùng các nghệ nhân được đi thăm một số nơi trên nước Mỹ. Thấy nhiều nhà chọc trời, nhiều cảnh đẹp, nhiều rừng nhưng ông  chỉ để ý đến con cá, con thú… xem người ta đối xử với chúng như thế nào? Ông hỏi chuyện người dân (qua phiên dịch) thì thấy họ rất quan tâm, tự giác giữ gìn môi trường, chỉ đánh bắt (mà cũng rất hạn chế) bằng dụng cụ thủ công. Súng, mìn, sung điện… tóm lại những loại giết con vật, ai sử dụng sẽ bị pháp luật xử rất nặng.    
Tri kỷ với ruộng Mường Thanh, sông Nậm Rốm
          Ông Cu sang Mỹ là đại diện cho khu vực đầu nguồn Mê Kông (sông Nậm Rốm vào dòng Mê Kông ở Pắc U - Lào). Theo thước đo thành tích, xuất chúng như các cuộc hội thảo quốc tế… thì ông không có gì. Ông chỉ biết ruộng sông ở trong mường bản. Vì cuộc sống gắn bó nên trọn đời tri kỷ với dòng sông đất Mường Trời.
                  

Tuổi thơ của ông ở bản Kha Chít (xã Thanh Minh), lớn lên, đi ở rể rồi sinh cơ lập nghiệp tại Phiêng Quái (Noong Luống) cho đến nay. Như bao đứa trẻ người Thái Mường Thanh khác trong tập quán “Ở theo suối, ăn theo nước”; cậu bé Cu theo cha, rồi dần dần cũng tự bắt được con lươn, con cá; từ ruộng, suối gần nhà đến ra dòng Nậm Rốm. Nậm Rốm thời ấy rộng và sâu lắm, đôi bờ rừng cây um tùm rậm rạp; ban ngày cũng đầy bìm bịp đuổi nhau. Dòng sông là cả một “kho thức ăn sống”. Nào chép, trê, trạch, cá quả; nào lươn, ba ba to tướng, lâu lâu gặp người còn lồi mắt lên chào! Người hồi đó một phần ít, phần nhiều là biết yêu sông yêu cá. Đánh bắt thì cũng xay (lờ), xúm (nơm) nhưng vừa đủ ăn thôi. Con to mới lấy, ăn vừa một hai bữa, con bé thả về sông nuôi cho lớn. Người không tham, không ác; sông hiền lành, cá tôm phởn phơ; cả hai thành bạn bè yêu nhau như vợ chồng con cái.
Nhìn cha làm, rồi cha dạy; năm 15 tuổi, anh Cu đã thành thạo các loại dụng cụ bắt cá. Việc đan cũng lắm công phu, giai đoạn. Đầu tiên lên rừng chọn cây sặt bánh tẻ, đem về chẻ ngay rồi cho lên gác bếp lấy khói chống mọt. Rồi sau đó, những hôm trời mưa, rỗi rãi… lấy ra đan. Đan chả ai tính theo công theo buổi nhưng nếu làm liên tục thì hai ngày xong một cái xay (lờ). Còn đan xay moi (rọ) thì nhanh hơn, bởi dụng cụ này nhỏ, chỉ có một hom, kiểu đan cũng đơn giản.
Đan lát và bắt cá, lươn; ông Cu đều giỏi. Hỏi mấy thanh niên bản Phiêng Quái, chuyện ông Cu bắt lươn, cậu nào cũng lè lưỡi… chịu ông ấy, tay như có thần có ma. Cũng dùng rọ, chập tối cho mồi cua đập chết, rồi đặt ven ao, ruộng mà sáng ra lấy; bao giờ rọ ông Cu cũng nhiều nhất.
Ông Cu bảo, từ năm 2000 trở về trước lươn nhiều, rọ nào cũng được, có rọ ba, bốn con. Người Thái Noong Luống, Sam Mứn, Thanh Yên còn nhớ… dạo ấy các nhà nuôi cá bột chả hiểu làm sao cứ bị mất dần mất mòn. Ông Cu biết chuyện liền bảo – Thằng lươn nó ăn đấy, để tôi có cách.  Ông đến, mỗi ao đặt hai, ba rọ…, có hai đêm, lươn chúa 3 - 4 lạng/con cũng phải qui hàng. Không những giỏi bắt bằng rọ, ông Cu còn tay không tóm lươn. Nghe chuyện bắt lươn bằng tay cũng nhiều, được dịp tôi muốn tận mắt. Ông vui vẻ xuống bờ ruộng. Ông dạy cách phân biệt hang lươn và hang cua. Hang cua cứng, hang lươn mềm; nếu thọc tay vào hang mà có cảm giác mút thì đích thị  họ nhà trơn rồi. Gặp lươn lập tức dùng ngón trỏ kẹp, chỗ cách đầu nó độ mươi phân. Con to thì làm như thế, còn loại nhỏ, chỉ cần lấy ngón cái bấm là nó phải ngoan ngoãn theo tay mình vào giỏ.
Khi hỏi về cá tôm sông suối Điện Biên bây giờ, ông Cu buồn rầu nói: “Còn ít lắm, có khi sắp hết sạch rồi. Tại dùng thuốc trừ sâu bừa bãi. Tại sung điện giết cả trứng…”. Mấy năm nay, ông cũng không đan cái lờ, cái nơm nào vì sông sắp cạn, suối sắp khô. Ông chỉ mong những kẻ giết cá, động vật hoang dã bị phạt thật nặng. Tôi chỉ biết chia sẻ cùng ông; rằng… những đồ đan lát của bác có thể làm quà lưu niệm du lịch; rằng… sẽ có lúc người với sông suối cá tôm lại trở về chung sống như xưa. Ông ngồi thừ, đôi mắt như mơ. 
Read More..

Thứ Ba, 26 tháng 3, 2013

Mảng xanh phía Đông thành phố Điện Biên Phủ


Tp được giải KK cuộc thi viết về NN-NT-ND, 2012, Báo Nhân Dân 

Chị Cà Thị Xuyến bên ao vườn nhà (
       
Dù đã hẹn trước, chủ nhà chỉ đường kĩ càng qua điện thoại, tôi vẫn bị lạc khi tìm đến nhà chị. Sự lạc này cũng tại bởi màu xanh. Xanh rừng cây lấy gỗ, tre bát độ, lối vào dẫu đã đường to bỗng chỉ là sợi chỉ chìm trong miên man cây lá. Tôi đã đến một ngôi nhà nhỏ, ao cá dài theo thung khe. Một đôi vợ chồng trẻ niềm nở chào hỏi, mời vào nhà uống nước. Khi hỏi tên chủ nhà tôi mới biết mình bị nhầm. Anh chủ bảo nhà chị Xuyến phải đi ngược lại con đường lúc nãy, dăm bảy trăm mét, có lối rẽ trái, thấy ngôi nhà sàn đẹp là đúng.
Lần này tôi đi đúng, nếu sai cũng chẳng có ai mà hỏi, hình như có một “chủ nhân” nữa là rừng. Chị Xuyến tiếp tôi như người quen đã lâu? Tôi chưa giới thiệu, chị cũng không hỏi. Câu chuyện tự nhiên, chị kể anh nhà vừa mổ ruột thừa trong viện, cháu nhỏ đi học. Tôi hỏi thăm thì ít mà liếc ngắm khu vườn rừng thì nhiều. Xanh mát mắt, mát làn da, bấy nay người ta hay nói du lịch sinh thái nơi này nơi kia, nay tận thấy đây thật chả kém gì. Tôi bảo nhà chị làm du lịch được đấy, khách đến dạo chơi rừng nhà, hái quả, câu cá, đến bữa cá gà có bàn tay chủ nhà chế biến các món của người Thái thì thú nào bằng. Chị chưa trả lời thì có bốn người khách èn èn xe máy vào. Họ chào chị và đi luôn xuống dưới. Chị nhìn theo, giải thích – Họ đến câu cá nhà em đấy, em không bán vé, họ thích, câu được bao nhiêu thì cân lên thanh toán theo giá thị trường . Họ được vui vẻ thư giãn, em được phục vụ và… đỡ công đi chợ. Tôi nhìn theo hướng mắt chị nhưng chỉ thấy xa xa, qua những làn cây lá mấy vạt ao. Nhà chị cũng thành phố, nhà tôi cũng thành phố mà vài chục phút xe máy đã khác nhau một trời một vực. Nếu tính về môi trường, có khi cả thu nhập chị hơn đứt công chức bọn tôi. Chị không phản đối, chỉ cười bảo – Mười ba năm mồ hôi, nước mắt mới được như thế này đấy anh ạ.
Cái mốc khởi nghiệp của chị Cà Thị Xuyến bắt đầu từ năm 1998, khi chị rời bản Noong Bua, xã Noong Bua (Nay là Phường Noong Bua, TP Điện Biên Phủ) về bản Tà Lèng (xã Tà Lèng) này cùng anh Lê Chí Thiết xây tổ ấm, sinh cơ lập nghiệp. Hồi đó đôi trai Kinh gái Thái tài gái sắc này chỉ có bốn bàn tay trắng, 8 ha đất đá và… bầu trời trong veo. Sức trẻ nhân đôi với bàn tay rớm máu, bàn chân chai sần; leo trèo, phát và cuốc. Họ làm lúa nương, trồng ngô, trồng sắn, chè. Nhưng đây đất dốc, mưa xuống là trôi tuột hết màu mỡ, đá như tất Điện Biên về tập trung, cứ trơ ra, nhọn lên vẻ trêu ngươi, thách thức. Chị Xuyến bảo cây sắn hồi ấy… to bằng ngón tay trẻ con, nhìn buồn cười lắm nhưng mình nông dân không trồng cấy cũng chẳng biết làm gì. Mấy năm trời đánh vật với đất đá mà trời chả cho cái gia đình bé nhỏ này khá lên. Tuổi trẻ, kinh nghiệm chưa có, vốn liếng còm còm cũng chỉ làm sắc thêm cái cuốc con dao. Kết quả đọng lại cho ngôi nhà hạnh phúc của họ cũng chỉ là đủ ăn và mồ hôi vẫn còn tuôn lúc lên giường ngủ.
Không thể cam chịu cuộc sống nghèo khổ như cha mẹ mình, bà con cô bác trong bản, nhiều đêm hai vợ chồng thì thào nhỏ to bàn cách. Cách gì thì cách không được chê đất xấu, chỉ tại đầu óc con người chứ không tại gì hết.
Họ bắt đầu bước đi đầu tiên là làm ao cá. Sẵn khe dưới chân núi, bằng sức hai vợ chồng, cộng với anh em bạn bè, sau nửa tháng, họ có một cái ao gần 1.000 m2 . Nước sạch, nhiều màu mỡ từ hai bên núi chảy xuống nên trắm cỏ, rô phi, mè… chóng lớn lắm. Vụ đầu đã lãi kha khá, sẵn kinh nghiệm rút ra, anh chị lại tiếp tục luân canh. Rồi mua cá bột về ươm, khép kín quá trình nuôi cá. Tiếng hay đồn xa, chẳng những trong bản, xã mà nhiều người từ Núa Ngam, Mường Phăng… cũng tìm đến nhà chị Xuyến hỏi cá giống. Cá nhà chị mang về nuôi rất chóng lớn, bởi lẽ tính chị sởi lởi, giúp người với một niềm tin, họ khó cũng như những năm trước mình khó. Người đến cứ việc kí sổ, lấy tháng 5 đến tận tháng 10 bắt cá bán hết mới về Tà Lènh trả nợ. Tôi băn khoăn ngộ nhỡ người ta ‘quên”? Chị bảo người cất công đi xa tìm giống chắc chắn là người làm ăn thật thà. Chị tin người, giúp người như thế nên trời đất cũng ủng hộ chị.
Năm 2006, sau khi tham dự một số lớp tập huấn khuyến nông, khuyến ngư của Hội nông dân xã, cộng với số vốn được vay năm mươi triệu đồng, gia đình chị quyết định chuyển 1.000 m2 ao cũ và toàn bộ diện tích ao mới khai phá sang nuôi tôm càng xanh. Lúc này ao nhà chị, sau nhiều năm nuôi thả, đầu tư đã đầy đủ các điều kiện để nuôi loại tôm cao sản, đắt giá trên thị trường. Dường như không có một bất lợi nào đến với gia đình chị từ khi thả con tôm bé ti xuống đến khi cầm cục tiền từ các nhà hàng mang về. Chị Xuyến thật thà kể: Ao nhà mình nước trong, đáy nhiều cát pha sỏi, rất phù hợp với con tôm xanh. Tôm cứ đều đều lớn, không bệnh tật gì. Thức ăn, cách cho ăn thì cứ làm đúng theo sự chỉ dẫn của Trung tâm thủy sản là ổn. Năm đó, từ con tôm, nhà chị chả vất vả nhiều mà lãi to. Ngày ngày anh cất tôm lên (khoảng 10 kg), cho vào hộp sốp, rồi chị đèo đến các nhà hàng ngoài phố; vèo cái đã xong, khi về cũng có ngót ba triệu trong túi. Chỉ bốn tháng nuôi tôm, trừ vốn 30 triệu đồng (gồm tiền giống, thức ăn) nhà chị cũng lãi được 60 triệu đồng.
Từ con cá truyền thống (trắm cỏ, mè, rô phi đen), chuyển sang tôm càng xanh. Khi đang đỉnh cao của loại tôm tiền nhiều này thì gia đình chị lại chuyển sang nuôi tập trung rô phi đơn tính. Nhiều người thắc mắc, chị bảo - Tất cả là do thị trường. Rô phi đơn tính nuôi cũng không khó, giá bán lại phù hợp với số đông, lãi cũng không kém tôm càng xanh là mấy. Hơn nữa, gia đình chị vừa tham gia dự án nuôi cá rô phi thương phẩm của Trung tâm thủy sản, được hỗ trợ kĩ thuật, tiền giống, thức ăn…. Anh chị rất hiểu những điều kiện của gia đình mình, nuôi được và nuôi tốt giống rô vừa to vừa ngon này. Quả nhiên với diện tích ao lúc này đã được mở rộng lên 6.000 m2 , sau 6 tháng chăm chỉ, anh chị đã có hơn 2 tấn cá xuất ra thị trường. Với giá trung bình 40.000 đ/kg, trừ chi phí, họ cũng được lãi 50 triệu đồng.
Chị đưa tôi xuống thăm khu ao. Đường dốc, tôi lại mải ngắm cây cối; này mơ, này bưởi, này xoài… Mỗi bước đi là một bước xanh. Khu ao cá nhà chị không có vẻ “hoành tráng”, mênh mông tít tắp mà trái lại chỉ vừa vừa, dài dài. Đó là kiểu ao riêng, tất cả những gì từ hai vệnh núi, rừng cây bên trên chạy xuống ao. Ao. Rừng soi bóng xuống cá, cá đớp màu xanh. Và trong cái quanh quanh, miên man ao ấy, chợt òa ra con suối, đồng lúa.
Câu chuyện bên bờ ao của chúng tôi thỉnh thoảng lại điểm nhịp tiếng cá quẫy, đớp mồi. Chị rất vui, cười nói; tôi thì lại hình dung ra cái ngày đất trọc đồi hoang, mưa nắng chan chan. Ý nghĩ sao lại quay ngược thời gian vào lúc này? Tôi tự thấy vớ vẩn và đôi mắt lên cao… Nếu tính sự cộng hưởng của ao cá thì chị nói cây gì trong 8 ha rừng này? Tre bát độ. Tôi và chị cùng hướng lên rừng tre. Đầu tiên vợ chồng làm nương bậc thang, mấy năm trồng cấy vẫn chả ăn thua gì. Rồi tận năm 2004, 600 gốc tre bát độ được đưa vào 2 ha. Giống, kĩ thuật do Phòng Nông nghiệp thành phố cung cấp; còn ngâm , ủ, râm, trồng, chăm sóc và… đào củ mang bán là mình. Thứ tre măng này thật thích, dễ trồng vừa chống sói mòn đất vừa mang ra chợ là hết ngay. Mỗi mùa có trên dưới 3 tấn, tính trung bình 5.000 đ/ kg, gia đình cũng có một khoản thu không nhỏ.
Rừng, ao trước bền vững, có tích lũy rồi mới làm nhà; mới đây thôi gia đình chị Xuyến có bốn gian nhà sàn khang trang. So với nhiều nhà ở Điện Biên, Tuần Giáo… nhà chị chưa to, chưa đẹp lắm nhưng nó gần như hoàn toàn làm từ sản phẩm nhà. Trừ ngói, đinh, một số công thợ còn … cái cột này lấy chỗ đỉnh, cái xà này chỗ… ván sàn chỗ… Thật đúng là cây nhà làm nhà. Câu chuyện trong căn nhà còn thơm mùi gỗ của chúng tôi lại chuyển sang các nhà trong bản, trong xã Tà Lèng. Nông dân Thái, Mông, Khơ Mú ở Tà Lènh còn nghèo (hơn 50 %), cái khó bó cái khôn. Những năm qua vợ chồng chị đã giúp bà con giống, vốn, kĩ thuật nhưng cũng chưa được là bao. Chị chỉ mong muốn các cấp chính quyền, Hội nông dân quan tâm nhiều hơn, cụ thể hơn tới những người trên núi. Họ có sức lao động, chăm chỉ cần cù nhưng chưa bền bỉ ý chí. Bản thân gia đình chị sẽ liên tục cố gắng, duy trì ao, rừng tre bát độ; những năm tới sẽ chuyển đổi một số diện tích cây có giá trị thấp sang cây có giá trị kinh tế cao như na dai, bưởi diễn…
Tạm biệt ngôi nhà sàn, nhớ ao cá, rừng tre, thiên nhiên tuyệt vời. Nhớ cái dáng áo cóm nhỏ nhắn như hoa nắng, thoăn thoắt, thoăn thoắt… Gia đình chị Cà Thị Xuyến với ao, rừng là một chấm xanh phía Đông thành phố Điện Biên Phủ. Gia đình chị là chấm sáng cho bà con người Thái, người Mông, Khơ Mú ở Tà Lèng nương cậy trong đoạn đường vượt khó vươn lên.







Read More..

Chủ Nhật, 29 tháng 1, 2012

ALO BẢN PÁNH

Trao giải TT & CS, 2011

Bài đoạt giải ba (không có giải nhất) cuộc thi Thông tin và cuộc sống năm 2011 do Tập đoàn Bưu chính Viễn thông VN (VNPT) tổ chức

1.
 Người đầu tiên ở bản Pánh có cái a lô bỏ túi là anh cu Thạch, không phải anh mua mà người ta tặng. Anh ngoài cày bừa còn biết thuốc nam, đợt ấy có đoàn thợ làm kênh 135 ở trọ. Một anh bị sỏi thận, chữa đông tây tứ xứ không khỏi. Anh Thạch giúp bài thuốc lá, chưa xong công trình bệnh nhân đã nhẹ cả người, tươi tỉnh, sung sướng. Bệnh nhân hỏi tiền nong công xá thế nào dứt khoát anh Thạch bảo giúp vô tư. Nói đi nói lại mãi, cuối cùng anh Thạch nhận cái di động làm kỉ niệm. Cả nhà ngắm nghía, cùng nhau thử tí, xuống bếp, ra chuồng lợn… tiếng vẫn nét nèn nẹt. Thanh niên bản lác mắt, bảo nhau “con này phải 4 triệu” nghe, gọi, nhắn, nhạc, chụp… đầy đủ.

2.
Bản lấy anh Thạch làm đích. Đứa cố đi rừng ci cóp măng củi; đứa chịu khó đêm đêm ra suối soi cua… đứa “cù lần” quá thì “xin” bà già dăm bao thóc. Thế là, sau đấy mấy tháng, anh cầm tay nheo nhéo bản vắng. Hôm đám cưới mới thấy kinh. Vào mâm rồi, khu thanh niên tất cả như đang ăn bánh gai, học bài: “Chúc ngon miệng nhé”; “Này con Pỏ dây ngồi mâm tao đấy”; “Mâm mày phải xong năm chai nhé…”. Đang ăn lại tèn ten ten trong túi quần, tưởng gì, chỉ bảo mỗi dòng chữ: “Gà già quá mày ạ! Phong bì ba chục thôi đấy”. Mâm người già khó chịu, một ông đến nhắc nhở thì…Con mời ông thử tí. Ông gọi luôn cho thằng con rể tít tận Sông Mã, đã quá. 
Cứ thế, di động lên lúc nào không biết, bản Pánh giờ mười hai đứa có, rộng ra cả xã có khi ngót trăm cái.

3.
Nhưng dạo này thấy im re. Tối, thanh niên đi tán gái không thấy tiếng “hát” trong túi quần; đám ma thì đi một nhẽ, còn đám cưới cũng thấy trật tự. Sốt ruột, hỏi ra mới biết… Anh cu Thạch hôm làm ngỡn ruộng cấy, gọi vợ mang cây chuối ra, hết tiền, tức cụ ném luôn, dận chân mấy cái cho xuống bùn đen. Thằng Pha, thằng Họa, cái Sương, cái Bình cũng lưu kho đám a lô. Chẳng phải cả thèm chóng chán mà là a lô nó ăn nhiều mà chả đẻ cho cái gì: Tiền nạp như tống vào mồm thuồng luồng, cơm người cứ lùi dần xuống rau muống, cua rang chịu lâu sao nổi; Mà giao dịch cứ quanh quẩn mãi bọn trong bản xã, ngày nào cũng … Mai bừa đâu đấy? Có đám nào mới không? … Thế là chẳng ai bảo ai, nhất loạt chán chối, muốn tống cái của nợ ấy đi. Nhưng mua vải bán áo, toàn người bản, đơn vị thóc…
“Ai bảo rửng mỡ lên, nào bây giờ lấy lại cho tôi hai tạ thóc”. “Được bao nhiêu cũng tống đi ngay. Để đấy, tê tê buồn buồn nạp tiền vào là cả nhà hát Bài ca trên núi”… Tiếng chì chiết, vặc nhau trong trên sàn nghe mà sót.

Di động về bản, có nguy cơ đi mất. Oai, sĩ bị cái thực dụng cho chết.
Bản, xã vẫn đói, nông nhàn dài dài. Giêng hai, thanh niên ngồi quán cả buổi, năm đứa tiêu được mười nghìn. Bọn đấy còn khá, đa số ra ngồi xổm ngã ba phì phèo điếu Du lịch, ngóng mơ hồ xa xa. Ai gọi phía bên kia đèo? Xe ca từ Hà Nội lên? Hay một cái gì vô hình nhưng mới sẽ đến cuộc sống nghèo nàn quẩn đọng nơi đây. Tuổi trẻ đang khao khát, một cái gì chưa định hình ở phía trước. Còn ông bà già, thương cái dáng ghé tai vào đài nhiều tiếng dán mỡ, sát mặt vào tivi có nghìn con muỗi.

4.
Chương trình 135 bước sang giai đoạn II. Điện, đường, trường, trạm như ở cõi tiên về. Thích nhất là hai thứ: Một là cái đập tít ngọn Nà Sa, con kênh ăm ắp nhìn đã  sướng mắt chưa nói lúc mở cống, nước ào ào, băng băng rồi chầm chậm vào ruộng nhà mình; Hai là điểm bưu điện văn hóa xã có phòng máy tính nối mạng In-tơ-nét.
Thanh niên dĩ nhiên là mê như điếu đổ cái thứ hai này. Cái Liến học hết lớp 12 ở nhà sắp cưới chồng thì hoãn… để đi học vi tính cho xã. Học một tuần trên huyện về, nó làm cô giáo cho tất cả. Nó dạy vào “gu gồ” gõ cái gì cũng ra. Nó dạy chát, gửi thư điện tử, nhoay nhoáy nhoay nhoáy. Thanh niên bản hóa ra thông minh, dạy một biết một nửa luôn. Một ngày, hai ngày, mười ngày tất cả đã cầm đầu chuột rê tít. Chả nhớ vào bao nhiêu ngõ ngách, toàn cái chưa thấy bao giờ. Như mơ.
Trồng cây gì? Nuôi con gì ở bản xem ra đã có câu trả lời. Cây lúa vẫn là chủ đạo, mấy năm gần đây năng suất đã lên bốn tạ/ ha nhưng trông vào mỗi nó cũng chỉ đủ ăn, còn bao nhiêu thứ phải chi tiêu. Ma chay, cưới xin, làm nhà, con cái học hành… không thể đừng được. Có nhà đã nuôi trâu, bò, dê… hàng đàn; nghe chừng khá nhưng không thể đại trà. Vốn to thì rủi ro to, cái đói cái nghèo vẫn thập thò đâu đó.
Sau cái di động, anh cu Thạch lại là người đầu tiên nuôi nhím. Đầu anh đã sáng ra, sau những lần vào gu gồ gõ chữ nuôi nhím. Anh thế chấp nhà đất, vay ngân hàng được mười triệu, thế là có đôi nhím giống. Động tí khó khăn, bí bách nào về chăm sóc, phòng bệnh cho nhím là anh lại chạy ra In-tơ-nét. Khó khăn ban đầu đã vượt qua, nhím mẹ đã đẻ được hai nhím bé. Anh bảo mấy thằng bạn cùng nuôi nhưng chúng sợ.
Anh Thạch cô đơn trong những câu chuyện nhạt vì chuyện nuôi nhím không có lời đáp. Một lần vô tình chát, anh gặp một anh cũng nuôi nhím ở tít tận Hòa Bình. Hỏi số di động anh, anh nói thật. Anh kia có cái nic-nêm là nhimban79, khuyên: Thế kỉ 21 rồi, di động như cái xe đạp, xe máy thôi. Suy nghĩ thay đổi đi nhé.
Anh Thạch lại mua di động, chỉ sáu trăm nghìn, làm nhõn hai việc – Nghe gọi, nhắn gửi. Gặp bạn buổi trưa ngoài mạng, tối về lúc ra chuồng nhím thấy hai con đánh nhau, phân màu khác thường… anh gọi ngay. Bạn Hòa Bình, rồi bạn Quảng Ninh, Lạng Sơn; cùng hội cùng thuyền nên chả khách khí, chỉ bảo nhau tỉ mỉ.
Ba năm trôi qua, anh Thạch đã bán được bốn đôi nhím giống. Tiền cũng khá, vợ anh bảo vay thêm một ít để làm lại nhà. Anh dứt khoát chưa được, phải sắm phương tiện đã. Nói là làm, anh rút di động gọi luôn ra phố. Chiều muộn, có tiếng xe máy gằn lên dốc; nhìn xuống hai thanh niên đang khệ nệ bê máy tính lên. Nhoằng cái lắp đặt xong, anh Thạch mở mạng luôn, vào trang nuoinhim.net. Vợ con ồ lên, dán mắt vào ảnh những chú nhím, lông như phát quang.
Chả giấu được, trưa hôm sau, thanh niên bản tụ về nhà anh Thạch. Anh Thạch cho địa chỉ, rồi mở luôn các trang trồng cây gì, nuôi con gì… Anh bảo xem, lấy tài liệu thoải mái nhưng tuyệt đối cấm gêm, sếch. Nhà anh thành điểm bưu điện văn hóa xã thứ hai.
Không biết từ ngày nào tháng nào, trong bản đã có ba đứa làm chuyện lạ. Thằng Pha nuôi dúi, thằng Nghiên nuôi lươn, thằng Hịa ba ba. Chúng đến hỏi anh, anh đang bận, gắt: “Máy đấy, vào mà hỏi thằng gu gồ”. Đấy là ban ngày, còn ban đêm, có lần khuya lắm rồi, anh bị a lô đến… Anh mở mạng hộ em, xem có thằng nào cần mua dúi giống nhé. Anh nhắn cho em, anh gọi cho em… Bực một tí, nhưng anh lại quên ngay khi vào mạng.
Cứ thế, cứ thế, anh Thạch thành trung tâm thông tin của bản Pánh từ bao giờ chẳng biết. Khuyến nông huyện, rồi tỉnh tìm đến anh. Cho sách, cho hướng dẫn đủ loại nuôi trồng. Một lần thầy giáo đến thăm phụ huynh Lường Văn Thạch, biết chuyện liền bảo anh nên lập một cái bờ-lốc. Mấy hôm sau, thanh niên xã đã kháo nhau: “Vào mà xem thachyeunhim hay lắm”.  

5. Bản Pánh năm nay đã có đường nhựa chạy qua. Hàng ngày ô tô, xe máy người phố tìm đến mua gà vịt, bò dê, nhím, dúi... Toàn thứ nuôi. Hỏi ở đây rẻ hơn phố được bao nhiêu, trả lời bằng nhau nhưng sạch, mang về chả phải ra chợ tí nào.
Anh Thạch bận nhiều hơn. Không phải anh mới nuôi thêm năm nái lợn rừng mà vẫn cái chuyện a lô, trả lời bằng nói, bằng chữ qua mạng. Anh vui, thanh niên vui, người già thích. Tất cả bảo: “Sang năm phải bầu anh làm Chủ tịch Hội nông dân xã”.

















Read More..

Thứ Bảy, 28 tháng 1, 2012

"Sao khắp" bản mường




“Bông hoa văn nghệ đến rồi! Mừng lắm rồi! Chuẩn bị uống rượu nghe hát thôi…!”. Cả bản đã đón chị Lường Thị Song - một trong số những người hát hay nhất của dân tộc Thái tỉnh Điện Biên - như thế. Chị và nhiều nghệ nhân ca hát khác ở Điện Biên nếu xét ở góc độ người  hâm mộ thì đang là sao… sao khắp (hát) bản mường.
Chị Lường Thị Song, "sao" khắp Thái số 1 của Điện Biên

“HÁT NHƯ ĂN CƠM, LÀM RUỘNG, ĐI NƯƠNG”
Khi tôi tỏ ý thán phục người Thái hát hay, hát giỏi thì ông Lò Pánh Cương 52 tuổi, nghệ nhân khắp Thái ở bản Na Vai (xã Xam Mứn, huyện Điện Biên) cười, nói: “Ô! người Thái hát như ăn cơm, làm ruộng, đi nương thôi”.
Theo bà Trần Minh Thư (nhà nghiên cứu, sưu tầm văn hóa dân gian, trưởng phòng nghiệp vụ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Điện Biên) thì khắp Thái có từ nghìn xưa, phần lời cho khắp lấy từ các nguồn: Truyện thơ dân gian (Xống chụ xon xao, Tản chụ xiết xương, Hiến hom…), nghệ nhân sáng tác và chính “ca sỹ” ứng tác luôn trong quá trình ngân nga. Tất cả nguồn lời kể trên đều được vận dụng một cách linh hoạt, miễn sao phù hợp hoàn cảnh tâm trạng… Sân khấu cũng hết sức ngẫu hứng… Là đám cưới, đám lên nhà mới; trên nương, dưới ruộng; trai gái gặp nhau…
Có hai loại khắp: Khắp mo (các thầy mo trong vai trò kể chuyện bản mường, lịch sử đời người, vùng đất…qua những lời cúng) dùng trong những dịp mang tính nghi lễ tín ngưỡng và khắp dân ca. Nếu như ở khắp mo qui định tính khuôn mẫu, bài bản chặt chẽ thì khắp dân ca hết sức tự nhiên gần gũi với mọi đối tượng. Khắp dân ca có thể quam khắp chiên lang (đơn ca), mọi người xai xương (làm bè) những câu đoạn thích thú; nhưng đa số chia làm hai bên (thường là nam nữ) hát đối đáp. Bên nâng bạn hát của mình lên bằng những mỹ từ, phép so sánh với những gì đẹp nhất; bên đáp lại là lời hạ mình đến xấu xí, chán ngán. Cứ thế trong cái khuôn chung nâng hạ, lời ca đi lại nhịp nhàng. Hãy nghe một đoạn khắp báo sao (hát trai gái):
Chàng trai: Quám pák noọng bàn sứa ỏi thướt/ Bát nhang noọng pàn láy luống kin (Giọng nói em ngọt như mía/ Dáng em đi mềm nhanh như sao chổi)
Cô gái: Nhinh phủ hai hương phôm nho, khôn ta kho xốp pưa nhại lảy/ Sương va pan pha phẻ báu láy lả pi chu sương minh quám bản (Em người xấu, tóc xoăn, mồm rộng, lòng xấu như cắt, lời nói như sét đánh không xứng được anh khen
Chàng trai: Chí au pánh má tánh hướn củ/ Chí au lả minh chụ má tánh hướn kin
(Anh sẽ lấy em cho mẹ, sẽ cưới em làm vợ xây tổ ấm gia đình)
Cô gái: Mák khừa khôm báu xổm nặm phắp/ Báo đắc tản sao cha xia thôi bun luống (Quả cà đắng không hợp nước đường/ Con trai khôn giỏi tìm con gái ngu dại như em chỉ thiệt anh thôi)
Khắp là một loại hình sinh hoạt văn nghệ dân gian, gắn với nhu cầu tự mở lòng, giao lưu. Cho tới nay, trải qua hơn một nghìn năm lịch sử người Thái ở Việt Nam, khắp mặc dù phạm vi hẹp lại nhưng nó vẫn sống động đặc biệt trong những dịp đám cưới, lên nhà mới.


SAO KHẮP BẢN MƯỜNG
“Bác ơi! Bác có phải là ca sỹ người Thái mình không?”. “Sao cháu hỏi thế”, “Cháu nghe giọng bác thấy đúng ca sỹ trong băng Xống chụ xon xao”. Chị Lường Thị Song 47 tuổi, ở bản Co Củ, xã Thanh Minh, TP Điện Biên Phủ - kể lần gặp một cháu bé ở chợ trung tâm TP Điện Biên Phủ. Tôi bảo chị là sao ca nhạc thực thụ rồi, chỉ thiếu xin chữ kí thôi. Chị Song phấn khởi kể tiếp… Chục năm nay, khi mùa màng rỗi rãi, chả mấy khi chị được ở nhà; khi vào Na Son, Na Phát; lúc đến Mường Pồn; có khi xuống Thuận Châu (Sơn La), sang Than Uyên (Lai Châu)… theo yêu cầu thính giả. Bản mường người Thái đều gọi chị là “Bông hoa văn nghệ”… Bông hoa văn nghệ đến rồi! Mừng lắm rồi! Chuẩn bị uống rượu nghe hát thôi! Thế là mọi nhà thu xếp công việc, người mấy lạng thịt, người mang con gà bé, người vài cây rau… tập trung tại nhà văn hóa bản (hoặc nhà nào đó rộng rãi). Mâm rượu dải dài đơn sơ, bản nhộn nhịp như có đám, mấy vòng “au hảnh” (uống hết) nâng lên khởi động. Già trẻ gái trai hồi hộp, đón chờ; thế là mình cảm thấy rất tự tin, phấn chấn, thêm yêu nghề hát này… Chị Song bộc bạch.  
Theo ông Lò Pánh Cương: Chế độ cho ca sỹ khắp dân ca ngày trước cũng tốt lắm. Người hát hay được mường cấp cho khu ruộng tốt (diện tích tùy theo, nơi nhiều có thể đến vài hécta), tự làm tự ăn, không phải đóng thuế, coi đó như khoản “cát xê” thường xuyên cho “giọng ca vàng” của bản. Bản thân ông Cương suốt thời trai trẻ đến bây giờ đố đám cưới, lên nhà mới nào vắng mặt được. Hát trong đám cưới, ngoài mọi người vui vẻ, đôi lứa hân hoan; lúc về ca sỹ bản luôn được phần gói mang về, đôi cân thịt, rọ cá sấy, trầu cau… Tức là đám cưới có gì, ca sỹ được chủ nhà quà cho thứ ấy mang về. Đấy là sự tôn vinh ái mộ của cộng đồng, còn nhà nước, hiện tại các ca sỹ bản chỉ có thù lao theo việc. Đi hát cho lễ hội, thu thanh ở đài PT TH Tỉnh, đài TNVN phạm vi từ 30.000 đồng đến 150.000 đồng/ bài, gọi là thù lao nghệ thuật... 
ĐỂ LỜI CA KHẮP THÁI MÃI NGÂN
“Dân tộc nào cũng thế chỉ cần nói tiếng của mình đã thích rồi, hát thì càng sướng hơn. Khắp Thái sẽ không mất đâu”. Chị Lường Thị Song khẳng định.
Thực tế; Hạn khuống (lối hát đối đáp giao duyên) đã một đi không trở lại dù từng được phục dựng trên sân khấu hoành tráng; chọc sàn đang bị di động cầm tay chỉ lối và… nhiều những nét đẹp văn hoá truyền thống đã bị yếu tố hiện đại lấn át, làm mất. May thay, khắp dân ca vẫn còn, tuy phạm vi có hẹp lại.
Cháu Lò Thị Xuấn (giáo viên trường Mầm non Sa Dung, huyện Điện Biên Đông, Điện Biên) con gái chị Lường Thị Song, một giọng hát trẻ, rất triển vọng nêu ý kiến: “Nếu các trường học chú ý hơn tới khắp dân ca cho các em vùng người Thái; ngành văn hóa tổ chức nhiều hơn các hội diễn văn nghệ quần chúng,  cho mở các lớp dạy hát tiếng Thái tại bản… thì khắp thái sẽ còn mãi, còn khắp nơi”. Cùng chung khát vọng, ông Lò Pánh Cương bày tỏ sự tin tưởng: “Khi nào người Thái còn nói tiếng Thái thì khắp Thái còn mãi vang ngân”.








Read More..

Thứ Sáu, 27 tháng 1, 2012

CHỌC SÀN XƯA VÀ NAY




“Bặc sao” (Chọc sàn) là một tục đẹp trong tiến trình hôn nhân của trai gái dân tộc Thái. Từ quen nhau, yêu qua ánh mắt rồi mới đến chọc sàn; sau đó còn một chặng dài cha mẹ thưa chuyện, đám cưới, ở rể và tiếp đám cưới… đôi lứa mới về một nhà, nằm cùng một đệm. Với chuyện chọc sàn, đáng tiếc nhiều người từ miền văn hóa khác hoặc chính thanh niên Thái hiện nay đã hiểu sai hoặc không đầy đủ về chuyện tình duyên của trai gái xứ hoa ban.
Du An đang nghe bà Rọn kể chuyện năm 12 tuổi, "anh" đến chọc sàn.

Nguyên bản chọc sàn
Bà Quàng Thị Rọn, 82 tuổi ở bản Na Hy (Xã Thanh Nưa, huyện Điện Biên) rất vui khi tôi hỏi chuyện chọc sàn. Bà nói ông của bà đến chọc sàn bà năm bà 12 tuổi, ông phải ở rể 3 năm mới được làm đám cưới, rồi tiếp 9 năm ở rể nữa, bà mới theo ông về nhà.
Chọc sàn (theo ông Hoàng Thím, dân tộc Thái, 74 tuổi,  người duy nhất hiện nay của Điện Biên, khu vực Tây Bắc được Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam phong danh hiệu nghệ nhân dân gian đàn tính năm 2003) là một kiểu giao duyên, ghi dấu cho tình yêu. 
Khi mùa vụ xong xuôi, thóc ngô về nhà, đợi gần khuya, chàng trai tìm đến nhà bạn gái... chọc sàn.  Hành trang cho lần chọc sàn thường là một hoặc một vài nhạc cụ (pí pặp, loại sáo nhỏ nhất bằng nứa; pí láo pắn, sáo dài 1,2 – 1,4m; nhị, tính tảu, đàn môi). Đến gần nhà cô gái, tiếng pí (tính tảu, đàn môi) cất lên cùng lời ca da diết, cảm thương: … Xưa khốp mu cang ná/ Khốp ma cang bản/ Côn điêu khỏi giản/ Khỏi len mà/ Kháy tu hởư khỏi/ Kháy tu hởư khỏi/ Noọng ơi! Noọng ơi! Có nghĩa là: Hổ cắn lợn giữa ruộng/ Cắn chó giữa bản/ Một mình tôi, tôi sợ/ Tôi chạy về/ Mở cửa cho tôi/ Mở cửa cho tôi/ Em ơi, em ơi.
Chàng thổi pí, hát như móc trái tim của mình giơ lên. Nàng nằm đệm như trên đám gai. Tiếng pí gần lại, gần lại…Đến gầm sàn, chàng lấy một khúc gỗ nhỏ, dài độ 30 – 50 cm, chọc lên đúng chỗ nàng nằm. Là con trai Thái ai cũng biết gian đầu thờ tổ tiên, gian tiếp bố mẹ ngủ, rồi đến gian con trai, con gái.
 Chỉ còn tiếng cộc cộc trong đêm vắng. Nàng nghe thấy hết, đợi một lúc thì hỏi mấy câu thăm dò qua sàn xuống dưới. Hồi lâu, lời lên, lời xuống, nếu cảm thấy hợp nhau thì nàng nhón chân đi ra mở cửa, đón chàng vào nhà. Họ ngồi có thể trong nhà hoặc ra  “cốc chan” (sàn ngoài), giữ một khoảng cách, không thắp đèn cứ chuyện nhỏ nhẹ trong bóng đêm. Nội dung câu chuyện là đi rừng, làm nương, cha mẹ, bạn bè… thỉnh thoảng xa gần chuyện đôi ta. Cứ chuyện như thế suốt đêm, đến sáng.
Đêm sau, nghe tiếng pí là nàng biết liền. Sau ba bốn đêm chuyện trò như thế thì chàng trai hỏi cô gái có nhất trí làm vợ mình không. Cô gái đồng ý, chàng trai về thưa chuyện với bố mẹ mình và cho bố mẹ đến hỏi. Sau đó là giai đoạn ở rể, chàng trai ăn ngủ, làm lụng tại nhà ải mắt (bố vợ). Khi đó đôi lứa đã gần nhau nhưng vẫn ngủ riêng. Nhanh thì ba ngày, lâu thì một tháng sau bố mẹ chàng trai đi hỏi cưới. Sau đám cưới, đôi lứa mới chính thức là vợ chồng, được chung chăn đệm với nhau, sinh con để cái. Tuy nhiên, theo ông Lò Văn Ơn(người được gọi là Ông vua nhạc cụ dân tộc của Điện Biên) hồi ông còn thanh niên ở bản Tâu (Thanh Nưa, huyện Điện Biên) đêm trước đám cưới đôi lứa được bố mẹ cho Non báo non sào (trai gái ngủ vợ chồng với nhau) để… “Biết hết nhau, thành vợ thành chồng không còn gì ân hận nữa”.  Tiếp theo, khoảng sau ba đến sáu năm ở rể (tùy theo nhà gái yêu cầu); chàng trai còn phải một lần tạ ơn bố mẹ vợ đã sinh ra, nuôi dưỡng được vợ cho mình; một lần cưới cuối cùng đưa vợ về nhà nữa. Những lần cưới đó đều mời cả bản đến uống rượu chia vui, chứng kiến.
Và chọc sàn ngày nay
Theo thời gian… chọc sàn cũng biến đổi và đến bây giờ thì gần như mất hẳn. Lò Văn Anh (17 tuổi, hiện đang học lớp 11, trường THPT Thanh Nưa, huyện Điện Biên) mặc dầu thổi pí pặp làn điệu chọc sàn rất chuẩn nhưng cũng bảo: “Bây giờ bọn em chọc sàn bằng di động thôi, thích nhau thì gọi ra được ngay!”.
Còn Lò Thị Mai (quê xã Mường Pồn, huyện Điện Biên) mới lấy chồng về TP Điện Biên Phủ khi hỏi về chuyện chọc sàn thì cười rũ rượi: “Không có đâu. Yêu nhau như mọi nơi khác thôi”.
Lớp người chọc sàn giao duyên kiểu truyền thống bây giờ cũng đã lên ông lên bà. Trai gái Thái hiện nay, hầu như không chọc sàn nữa, mà tỏ tình rất đơn giản như người Kinh. Thời mở cửa, đời sống vật chất đi lên, nhà sàn đan xen nhà đất mọi thứ cần nhanh tới đích. Tỏ tình không bằng tiếng cộc cộc dưới sàn nữa mà bằng nhắn tin, a lô… Ông Hoàng Thím kể chuyện lần ông về quê thấy đêm khuya các cháu đem ghi- ta ra gọi con gái mà tức. Ông Lò Văn Ơn đang cố gắng chế tác, truyền dạy các nhạc cụ dân tộc Thái, trong đó có các nhạc cụ chuyên để chọc sàn nhưng xem ra tính hành dụng của nó rất thấp.  
Ngày xưa ngồi bên nhau không có ngọn đèn làm chứng vẫn sáng trong đến ngày cưới. Ngày nay điện sáng thì rủ nhau lên đồi, ra bờ suối, ngoài quán ở phố tâm sự. Chuyện quan hệ tình dục trước đám cưới tương đối phổ biến dù không phải ở rể ngày nào. Ngày xưa “Ỉn sao” (Đi chơi gái) là đi chơi, nói chuyện với con gái; ngày nay “chơi gái” bị hiểu ngay là nghĩa đen thô thiển!
Ngành văn hóa Điện Biên, cũng như các tỉnh có đồng bào Thái sinh sống đã phục dựng nhiều lễ hội, nét đẹp văn hóa của dân tộc Thái trong đó có tái hiện cảnh chọc sàn. Nhưng xem ra việc chọc sàn sân khấu hóa không đi được vào đời sống, môi trường hiện đại. Vẫn biết xã hội luôn phát triển, thời gian sẽ thanh lọc những gì còn lại phù hợp nhất. Nhưng trước chọc sàn và nhiều nét đẹp truyền thống khác của các dân tộc đang ở trong tiếng thở dài của người già… tôi lại buồn.

Read More..