Tìm kiếm Blog này

Thứ Bảy, 23 tháng 3, 2013

Máy bay lên Pú Khớ

                                                                   

         Năm đứa bản Pú Khớ bỗng dưng biến mất. Mãi tối mịt các nhà đi nương về mới nhao hết cả lên. Lúc ngựa đập móng ruỳnh ruỳnh, lợn eng éc, gà chó quẩn vào chân… cần người bé thì thấy thiếu. “Thằng Sình đâu đem cỏ cho ngựa đi”. “Có thằng Sình đâu mà bảo”. “Thế nó đi đâu”... Ngớ hết cả ra. Bà bảo tưởng nó học về lên nương luôn với bố mẹ. Mẹ bảo cả năm nay toàn cho học, không cho làm. Bố đứng dậy: “Chết rồi, có khi bị bọn buôn người bắt rồi.” Mẹ khóc ới Sình ơi, mày mà chết thì mẹ cũng chết. Bố biết mình nhỡ mồm nói dại, liền nhẹ giọng: Hổ cũng chả vồ được nó đâu mà lo. Chắc vui bạn bè, tí nữa khắc về. Bố đang lo, cả tức nữa.
- Có thấy thằng Đứ ở đây không?
Bố thằng Đứ cầm con dao dài vào nhà. Dao giơ cao, mắt sục sạo. Làm như nhà người ta giấu con ông không bằng.
- Tôi cũng đang định sang hỏi thằng Sình có ở đấy không.
- Giàng ơi! Bây giờ biết hỏi ai. Con ơi là con ơi…
Bố Đứ khóc như đàn bà. Bố Sình nói như quát: “Khóc làm gì, chẳng gọi được nó về. Cùng đi hỏi thôi”.
Hai người đi, mẹ Sình chạy theo. Đến lớp học, bên phòng cô giáo, thấy đông người quá. Toàn là bố mẹ bọn lớp 5. Tiếng hỏi, nhao nhao:
- Cô giáo không biết... thì bây giờ chúng tôi biết hỏi ai?
- Bắt đền cô giáo đấy. Nó đi học nó không về nhà...
- Gọi trưởng bản đến thôi. Cho nó làm tờ giấy, bắt cô giáo phải tìm được con ta.
Cô Phương mặt tái tái, nói câu này, nói câu kia. Không ai nghe. Cô sắp khóc rồi.
- Nói nhiều quá, tranh nhau mồm, đến sáng cũng không ra. Để tao hỏi cô.
Bố Sình lôi từng người ra. Bắt đầu hỏi:
- Hôm nay thằng Sình, thằng Đứ, thằng Mua, cái Mùa, cái Nẻ có đi học không?
- Có, em kiểm tra Tiếng Việt lớp đi đủ mà.
- Thế tan học lúc nào?
- Mười rưỡi, tan xong chúng còn khiêng bàn ghế mới vào lớp mà.
Hỏi mãi mà chưa ra. Bố Sình thở dài. Đám đông thừa dịp lại nhao nhao lên. Bố Sình bóp trán một cái rồi hỏi to:
- Thế cô giáo thấy nó nói chuyện đi đâu không?
- ... Không. À hình như thằng Sình có hỏi thằng Đứ xe đạp nhà mày đèo được không?
Thấy rồi! Bố Sình sung sướng reo lên. Mọi người ùa vào, hỏi nó đi đâu. Bố Sình bảo không biết nhưng đi xe đạp, chắc là xa. Xa thì là đâu, nói rõ luôn đi. Hỏi tôi thì tôi biết hỏi ai. Chán thật, hé ra một tí lại tịt.
- Em có cách rồi, để em hỏi.
Cô Phương lấy di động ra gọi, cô bật loa ngoài, ý cho mọi người nghe. Tút tút tút một lúc thì đầu kia có tiếng... “Nhiều người Mông lắm, trẻ con cũng nhiều, toàn học trò em, đứa nào lạ biết ngay”.
Như vậy là thị trấn huyện không có, để em gọi xuống thành phố. Nó không xuống thành phố đâu, xa thế... Thì cứ để cô gọi, tìm kim rồi, chỗ nào cũng phải tìm. Cô lại gọi, lại bật loa ngoài. Lần này có tiếng... Có, lúc bốn giờ có mấy đứa người Mông ở chỗ đường rẽ vào nhà em. Cụ thể là mấy đứa? Em nhìn loáng thoáng, hình như là năm. Cả con trai con gái không? Có, cả trai cả gái.
Cô Phương tắt điện thoại, mặt vui. Bố Sình nắm tay cô, giật giật: Có phải nó xuống thành phố không? Sao nó lại xuống thành phố. Vâng, các anh chị nghe rồi đấy, khả năng là bọn chúng xuống đó.
Giàng ơi, giá lúc này thành con chim bay vù xuống đó xem, đỡ luôn lo lắng. Lo đau ngực quá rồi. Bây giờ có đường rồi, đi tìm chúng nó chứ. Bố Đứ nói.
Đùn đẩy, kiên quyết, nói có tình có lí, nói như quát... cuối cùng đoàn đi tìm chốt lại – Ba xe máy, ba người, gồm cô Phương, bố Sình và bố Đứ.
Xe máy xa rồi, đám đông thở dài, chẳng ai về nhà, cứ đứng đỉnh dốc.

Cả Pú Khớ chưa ăn cơm, có bao nhiêu đèn thắp bấy nhiêu đèn, người ra hết đỉnh dốc ngóng. Than thở, chuyện trò. Người kêu, người động viên. Người có đồng hồ chốc lại bị hỏi:  “mấy giờ rồi, sao lâu thế...?”.
Về rồi! Thấy rồi! Không đi mất rồi! Tiếng một người kêu to, như là trên ngọn cây tếch phát ra? Tất cả chạy về hướng tiếng. Ôm chầm, nước mắt, sờ nắn chân tay... rồi chửi. Chửi xong thì hỏi. Thằng Sình bảo chúng cháu đi xem máy bay. Thằng Đứ bảo thích lâu quá rồi không chịu được nữa. Cái Mùa bảo máy bay to lắm, chạy thật nhanh trên đường rồi vút một cái lên trời. Thế có thấy con chim không? Không, chim để làm gì? Sao bảo một nghìn con chim đại bàng thành máy bay mà. Ông Dếnh hỏi, bọn trẻ cười phá lên. Thằng Sình đứng ra giải thích... Không có chim đâu, bằng máy hết, trên lưng có cánh quạt, hai cánh có cánh quạt; quay tít mù không thấy cánh quạt, thế là máy bay bay.
Mọi người chăm chú nghe, cứ thế sẽ quên mất tội bỏ nhà ra đi của bọn trẻ nếu như lúc ấy đoàn đi tìm không về. Ba xe máy vọt lên, sịch đỗ. Người dưới đất không ai nói gì cả. Người trên xe chưa xuống đã quát, mỗi cô Phương không. Không ai cãi lại. Từng nhóm, từng nhóm về... vẫn còn nghe thấy tiếng “Ông mà được đi máy bay một lần xong chết cũng đã”. “Thì hôm nào ông bảo bố cháu đưa đi xem”.


*  * *

Cái máy bay thế là “ở” trên Pú Khớ.
Sau mấy ngày, mấy câu quát lấy trịch của bố mẹ thì nó không phải là một nghìn con đại bàng nữa. Nó là máy bằng sắt, to, dài; chớp mắt một cái xuống Sơn La, chớp mắt một cái xuống Hà Nội, chớp mắt một cái qua biển sang Mỹ... Toàn là chớp mắt. Thằng Sình kể thấy bọn cái Lìa, cái Nén mắt tròn long lanh. Ông Dếnh đang chớp thật, rồi nhắm mắt. Ông ngả người xuống cỏ. Cái Lìa tưởng ông làm sao, vỗ vỗ. Ông vẫn nhắm mắt nói – Ta sẽ làm một cái máy bay. Tất cả cười phá lên. Ông ngồi dậy:... Tưởng đùa à... thế thế... bằng gỗ tất.

Cái máy bay ở trong mồm năm đứa. Nghe mười ngày không chán, nghe lần trăng sau vẫn hay. Hôm nay trăng sáng, dưới gốc pơ mu thằng Sình lại kể. Người nghe là bọn lớp 1, lớp 2.
... Ới giàng ơi... Nó quạt bay cả bọn anh vào hàng rào sắt. Điếng hết cả lưng, đau quá, đứa nào cũng kêu. Anh bảo: “Cúi đầu xuống, nín thở chạy thật mạnh”. Tất cả mắm môi. Gió lại xoáy tưởng bốc mình lên trời. Năm đứa bọn anh nắm tay nhau thành một sợi dây. Thế là ngắm được máy bay.
Gió mát quá. Mấy cành cây không còn đánh lưng vào nhau nữa. Im lặng để bay, tất cả đang bay.
Thằng Sình đang kể thì vạt áo sau bị giật giật. Sình nguẩy lưng một cái. Im. Bọn trẻ con đang hỏi:
- Anh kể tiếp đi. Thế có nhìn thấy người trong máy bay không?
- Có chứ. Toàn người quần áo com lê. Cả mấy ông Tây chẳng biết đâu là râu, đâu là tóc.  
- Chắc phải nhiều tiền lắm mới được đi nhỉ?   
- Chuyện! Ngô cả nhà mày mới mua được một cái vé xuống Hà Nội đấy.
Không hỏi nữa. Mấy tiếng suỵt mồm thèm thuồng. Chúng mơ ngồi trên máy bay, nhìn xuống thành phố, nhìn xuống Pú Khớ. Chao ôi, lúc ấy đỉnh núi gọi máy bay bằng cụ. Mây trên cao thấy bảo là xanh lắm, dễ chịu lắm. Xanh, dễ chịu là phải. Bao nhiêu sông suối, cánh đồng, khu rừng bay lên nước mát, màu xanh. Mình ở sông ở suối, ở rừng mà chả bao giờ được ngắm nó đầy đủ đầu mình chân tay.
Biết là bọn nhóc này đang mơ. Sình chỉ cho mấy đứa nhìn. Nom mặt chúng nó thương thương làm sao, máy bay về đầy trong mắt.
- Chúng mày có thích không, hôm nào tao dẫn đi xem.
Gãi đúng chỗ ngứa rồi. Bọn trẻ nhao nhao: “có có”. Muốn đi thì phải đóng tiền. Nhiều không? Mỗi đứa hai mươi nghìn. Thằng Siu bé nhất nói: Em có đủ rồi. Mấy đứa kia ngần ngừ rồi bảo: “Để em về xin mẹ”. Không được, phải tự mình làm ra. Thằng Đứ bây giờ mới lên tiếng. Sình đứng dậy: “Đúng đấy. Hai chục nghìn bọ... bắt một con dúi, lấy mấy bó củi, đơn giản như thò tay vào túi”.
Ba hôm sau, một buổi tối thằng Sình đang học bài thì thằng Siu gọi. Sình chạy ra:
- Em đưa anh một trăm ba mươi nghìn. Sáu đứa đi... Em, thằng Sua, thằng Ly, thằng Bia, thằng Hạ, thằng Miến.
- Sao thừa mười nghìn? Sình chưa biết nói lại thế nào đành hỏi.
- Chỗ thừa cho anh vì em đi đào được cây khúc khắc hơn tiền lên.
Sáu đứa quây quanh Sình hỏi bao giờ đi. Sình gãi đầu, rồi bảo còn hỏi thằng Đứ và ba anh chị kia nữa. Sình đưa tiền lại, nói tiền này để nhỡ hỏng xe đạp và ăn kem... hôm nào đi mới cầm, bây giờ tất cả về học bài, không thì quên luôn từ đây. Sáu đứa ngoan ngoãn về.
Còn lại một mình, Sình thừ người. Đi nữa thì bố mẹ không cho. Nói thật như thế còn mặt mũi nào... Sình quay vào bàn học. Chẳng chữ nào vào đầu được. Nó gấp một cái máy bay, phóng đi.
- Thằng này không học à. Không học có mà bay xuống vực.
Bố cầm máy bay cho vào bếp. Bếp bùng lên một tí, tàn đen hình chiếc máy bay lơ lửng trên ngọn lửa. Sình đi ra ngồi bên bố:
- Bố ơi! Chủ nhật này cho con xuống phố nhé.
- Không được, cuối năm nhiều bài phải học, sang năm cấp II rồi. Vừa mới tự tiện xuống phố tha trận đòn lại còn đòi đi. Mày nghiện phố rồi à.
Sình cum cúp ra bàn học. Chữ trong quyển sách chập chờn. Nó gục xuống, rồi ngủ đến lúc nào.

Còn mấy lần, mấy đứa kia hỏi chuyện dẫn đi xem máy bay nữa. Sình ậm ừ, chúng nó càng hỏi. Hôm qua, Sình quát: Không đi nữa, tao lớp 5 phải bận học đâu như chúng mày. Mấy đứa tái mặt lủi về.

Chuyện máy bay tưởng quên. Nhưng không, trưa nay ông Dếnh lại sang tìm Sình. Ông bảo Sình sang nhà ông, ông mới nói.
Nhà ông Dếnh quá rộng. Có hai anh con trai đi lấy vợ, vợ bắt ở theo tít trong Mường Nhé. Con về bảo bố đi ở với chúng con khỏi buồn khỏi khổ. Ông bảo tao sinh ra ở Pú Khớ này, chết cũng ở đây. Nghe nói anh con cả sắp chuyển về mà mãi không thấy gì.
Sình bước vào nhà thấy luôn những tấm ván dài hết hai gian. Bào nhẵn hai mặt. Bên cạnh mấy cái xà, cái dài cái ngắn, đục rất nhiều lỗ. Ông vẫy tay Sình, bảo khiêng tấm ván, bảo lắp, bảo giữ. Ông cầm cái vồ đóng đóng… Ông kéo Sình lùi ra, ngắm. Máy bay! Bây giờ thì Sình đã hiểu. Hóa ra từ hôm bọn Sình về kể chuyện, ông nói… tưởng đùa hóa ra thật.
- Cái vỏ coi như là xong. Còn bên trong ông không biết làm thế nào…?
Sình chột dạ. Chết cha rồi, mình chết tại miệng rồi. Thằng Đứ, mấy đứa cùng đi; nói không hay, không thật bằng Sình. Ông chẳng gọi chúng nó.
Sình đang định nói cháu cũng không biết nhưng kìm lại được. Nó nhanh trí:
- Bên trong thì là ghế ông ạ. Hai dãy. Bên trên có giá đựng đồ kiểu như ô tô nhưng nhiều hơn. Hai trăm ghế tất cả.
- Thế còn máy nổ để đâu?
- Cũng để dưới ghế như ô tô.
- Thế thì chết rồi. Bên dưới ông để bằng nhau tất. Bây giờ thêm khoang máy lồi xuống. Còn bánh nữa, làm sao tránh khỏi cập kênh đây.
Ông Dếnh vò đầu bứt trán. Sình nghiến hai hàm răng, răng cắn vào môi. Nó sợ, nếu ông làm thật như thế… chắc sẽ kinh khủng lắm.
Sình lại cùng ông tháo hết tất cả ra. Một đống bề bộn. Sình lau mồ hôi mặt rồi bảo ông:
- Ông ơi chiều nay cháu phải ôn bài, một tuần liền thi học kì. Thi xong, cháu sẽ bảo bọn nó đến cùng làm với ông. Ông cứ để nguyên thế, đừng làm gì nhé.
Sình nói và chạy vù đi.
Sình lên ngay phòng cô Phương. Cô Phương đang soạn bài. Sình ngắm giá sách một lúc rồi ngập ngừng:
- Cô ơi… Cô có quyển nào nói về máy bay không?
- Không, cô không có. Toàn sách dạy Toán, Tiếng Việt thôi.
- Thế cô bao giờ đi máy bay chưa?
- Chưa. Về phép cô toàn đi ô tô.
- Chán thật, em tưởng cô biết…!
Sình quay ra, cô Phương chạy theo. Không nghe thấy cô nói gì, chỉ thấy mặt Sình tươi lên.
Tuần sau. Tan học là Sình ở lì trong nhà. Ngồi bàn, nằm giường; rồi ngồi phệt xuống đất vẽ vẽ, xóa xóa. Bố bảo mẹ: “Thằng này giờ tiến bộ nhiều”. Mẹ cười nói: “Sang năm cho nó đi học cấp II dưới trung tâm xã phải thêm tiền”.
Tuần sau nữa. Thứ sáu, Sình xin mẹ xuống thành phố chơi. Mẹ giãy nảy: “Chết chết… Lần trước làm cả bản sợ, không dám nữa”. Bố nghe thấy cười: “Có giỏi thì đi một mình, cấm rủ đứa nào”. Sình gật gật cái đầu: “Bố mẹ đi hỏi tất cả bọn lớp con, không đứa nào đi đâu”.
Bố mẹ mắc bẫy Sình rồi. Đúng là Sình không đi với đứa nào. Nhưng sai là… Sình đi với cô giáo. Tối nay cô Phương đến bảo. Bố mẹ chẳng biết từ chối câu gì. Cô Phương nói: “Anh chị yên tâm, Sình về nhà em, rồi em dẫn đi thăm cho biết hết thành phố. Phần thưởng học sinh giỏi đấy”.
Sình về nhà cô Phương, uống hết cốc nước chanh đã hỏi: “Chỗ máy bay xuống có xa đây không?”. Cô Phương bảo: “Hết chuyến rồi, 11 giờ trưa mai máy bay mới lên”.
Đêm hôm ấy Sình chả ngủ được. Một mình một giường, gối chăn thơm phức; vẫn không thích bằng cái giường bé, chăn màn đầy mùi khói. Mắt chong chong, Sình khoanh hai tay lên ngực, ngủ vẫn không về. Đầu nó u u ong ong. Thấy ruỳnh một cái, người chùn lại, rồi bay lên. Bao nhiêu người mặc quần áo đẹp kéo nó lên, nó cao cao mãi. Rồi nó lao vùn vụt. Nhắm mắt lại, không có tiếng gió ù ù; nó nhìn sang bên, xuống dưới… hàng trăm người ngồi ghế. Người đọc báo, người lim rim; những cô gái đẹp như tiên đi lại, nói gì chẳng hiểu.
Lúc cô Phương gọi dậy ăn sáng Sình tiếc quá. Cố nhớ đêm qua mà không rõ ràng, nó kể lõm bõm với cô. Cô bảo: “Chắc là thích máy bay quá nên thế thôi”. Sình tả… người, ghế rồi hỏi: “Cái máy cho máy bay bay ở đâu?”. “Ở đầu máy bay”, cô bảo. Thật không cô? Thật. Sao cô bảo chưa đi máy bay bao giờ. Thầy giáo cô bảo thế.
Từ sáng đến trưa, Sình có cái gì trong ngực cứ nghèn nghẹn. “Em nhớ bản à?”, cô Phương hỏi. “Ừ, em muốn về”, nó nói, vẻ mặt buồn buồn, có gì như lo lắng sợ hãi.
Có tiếng ì ì, rồi ù ù như ai xay lúa trên nóc nhà. “Máy bay lên rồi! Sình đâu nhanh lên”. Cô Phương kêu to và nhoáng nhoàng mở cửa phóng xe đi. Sình ngồi sau, ngửa cổ lên trời. Máy bay to quá, ngôi sao vàng lóe nắng, hai cánh xòe rợp xuống. Cô trò dưới đất, máy bay ở trên, cảm tưởng như xe máy đi nhanh hơn máy bay. Hết đoạn phố thì khuất. Cô Phương bảo máy bay về trong sân không xem được nữa; thôi cô trò mình về ăn cơm, chuẩn bị lên bản.
* * *
Đến đầu bản, Sình nói với cô Phương: “Cô bảo với bố mẹ em, em có việc này một tí”. 
Sình lên luôn nhà ông Dếnh. Ông Dếnh không thấy ở nhà, cửa vẫn mở.
Cái máy bay gỗ. Ông lắp lại từ hôm nào. Thêm cả cánh quạt, bánh xe bên dưới. Sình chui vào, nhìn ngắm. Gỗ bào nhẵn, thấy cả bóng Sình. Sình nhảy duỳnh duỳnh, mồm kêu ú ù ù, rồi xòe tay chạy từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên.
“Thằng Sình phải không, ông mong mãi”. Ông Dếnh vừa nói vừa trèo lên máy bay. “Còn hai dãy ghế đặt thế này, việc ấy dễ thôi. Từ nay đến mai phải khoét phần này để đặt máy. Làm chơi cũng phải cho nó giống”. Sình nghẹn cổ, định nói mà chưa nói được. Ông Dếnh xuống, đã mang cưa đục ra. Sình chạy lại: “Ông ơi, phần máy không phải ở bên dưới đâu”. “Sao… lại khác à?”. “Vâng, cháu vừa đi xuống thành phố hôm qua, vào tận trong bụng máy bay…”.
May quá, ông Dếnh chả vặn vẹo gì. Ông ra sau nhà vác bốn cái ghế lên. Sình chạy vào bếp lấy hòn than. Nó vẽ sáu ngôi sao liền; vào cánh, vào thân máy bay.
* * *

- Đứa nào đi máy bay thì theo tao!
- Đứa nào đi máy bay thì nhanh lên!
Sình chạy, tiếng thở, tiếng gọi to băng dốc, vút dưới hàng rào đá.
Rồi tiếng ruỳnh ruỵch ngược trở lại. Những mái tóc vàng hoe, những cái quần bắt chéo, những hàng cây tát tạt. Tất cả đang làm ra gió.
Nhanh lên, nhanh lên! Chuẩn bị lên trời này! Ú ù ù… Ú ù ù…
Máy bay cất cánh rồi. Pú Khớ vùn vụt, xa xa, mênh mông. Thu cả vào cánh rừng, khe suối, nương lúa, nương ngô.
Từ hôm đấy, buổi trưa, buổi chiều, buổi tối… lúc nào cũng có trẻ con đến xin đi máy bay. Ông Dếnh ngại quá, bảo hỏi thằng Sình ý, nó là chủ. Thằng Sình nói máy bay chính phủ phải mua vé bằng tiền. Máy bay Pú Khớ thì mua vé bằng… bằng gì tùy chúng mày chọn (Sình bí cách). Đứa bảo bằng củi, đứa bảo bằng ngô… bằng con dúi, con don… Sình đều lắc. “Bằng điểm 10”, thằng Siu giơ hai tay lên. Sình reo to: “Đúng rồi… mang bài kiểm tra có con 10 đỏ chót đến đây thì lên máy bay”.
Hôm sau máy bay có bốn khách. Y lời hứa, Sình nổ máy. Reo hò, bọn dưới đất đông hơn, ù ú u rung cả máy bay. Ông Dếnh ra, thấy thương, gọi Sình xuống bảo: “Thôi giảm giá vé đi, 8 điểm trở lên là được”. Máy bay thêm tám khách nữa. Còn hai đứa bé tí chưa có điểm cũng được ưu tiên cho lên nốt.
Tiếng ù ú u  bao la, mênh mang một khoảng trời.
Cả Pú Khớ bay lên. Tận cùng rừng xanh, tận cùng mây trắng. Pú Khớ đang gặp giấc mơ. Thật nhiều giấc mơ ban đêm thì sẽ đến giấc mơ ban ngày. Đi nữa, bay nữa.
                                                                Điện Biên 03/ 6/ 2011



Read More..

Nghiện rượu thành thầy bói


Ông Hợi đã ngoài 60, trông có vẻ gầy yếu một tí nhưng khoản rượu thì lại quá khỏe. Nhìn thấy ông là thấy mặt đỏ, thấy chai. Được cái chưa bao giờ ông nằm ngoài đường hay nhà ai…
Nhà ông có 8 người con, mới 2 đứa lấy vợ lấy chồng. Còn lại nhong nhóng ở nhà, quẩn quanh với mấy sào ruộng. Mình ông, ngày bóp mồm cũng một chai. Hoàn cảnh vậy, lấy đâu ra tiền mà uống lắm thế? Xin thưa, toàn chịu. Vợ con ông hầu như ngày nào cũng bị đòi nợ. Rác tai quá, nhục nhã quá phải tìm tiền mà trả cho nó xong. Nhưng ông uống ngày một tăng. Chủ rượu đến nhà, cả nhà đành ì ra, chả còn cách nào khác. Thế là khắp các hàng quán, nhà nấu rượu đồng loạt chừa mặt ông. Lúc đầu họ còn tế nhị; về sau nói thẳng - Rượu tôi không phải nước lã. Ông giận cá chém thớt về nhà chửi vợ con tùm lum. Mất một ngày ông không đụng một giọt cay. Bà mừng, lóe lên một ý kiến. Bà đến bảo khắp lượt các nhà nấu rượu, cho ông ấy nợ thì đi mà đòi ông ấy. Bảo trước đòi tôi, tôi chửi cho dại mặt.
Ngày thứ hai bị cấm vận, ông đi lơ vơ, xiêu vẹo. Đã được dặn trước, các quán đều “điếc”… khi “rót mời bác một cốc”. Ông bậm bục đứng dậy đi.
Đến một quán tạp hóa, chợt có tiếng gọi:
- Bác Hợi ơi vào cháu bảo cái này đã.
Ông vào, cô cháu họ biết ý cầm hai nghìn đi. Loáng cái mang về cốc rượu sóng sánh. Ông làm một hơi cạn, khà một tiếng rồi hỏi:
- Thế mày mở quán đây à… Mua hay là thuê đấy?
- Cháu mua được ba tháng nay rồi. Nhưng chán lắm. Toàn nợ, cháu ghi sổ đã hơn 5 triệu rồi. Người trong xã không sợ. Còn mấy xã tít trong chân núi… thôi chắc cũng mất thôi.
- Mất là thế nào. Trưa mai sẽ có hai đứa mang tiền đến trả.
Tưởng chỉ là câu chuyện làm quà, nào ngờ tối hôm sau, cô cháu khệ nệ mang kẹo bánh và rượu vào tạ ơn ông. Cô cháu hồ hởi kể: “Trưa nay hai người tận Xuân Tre mang đến trả tám trăm nghìn, lại còn xin lỗi sai hẹn nữa”. Ông được thể phán luôn:
- Số hàng tới đừng lấy mì chính, bác nghi lắm.
Tuần sau xe Hà Nội lên, cô cháu y lời ông, quả nhiên không gặp hạn. Còn quán khác dính toàn mì chính rởm, giờ nằm chết đấy. Cô cháu sau vụ thứ hai, đi đâu, gặp ai cũng ca ngợi ông hết lời… Ông ấy thiêng lắm, nói cái gì cũng đúng. Rượu vào là nói như có ma xó mách.
Tiếng ông từ đấy bay xa. Khách gần thì ít, khách xa ngày nào cũng vài người. Cứ thấy kiểu túi xách, thò chai rượu, thẻ hương, hỏi thăm nhà ông Hợi thì đích thị là khách xem bói. Ông Hợi bỗng đổi đời. Chẳng những rượu uống thoải mái mà rủng rỉnh tiền tiêu.
Tôi ở xa, lần ấy về quê… Cô em gái sùng bói ông hết mức, nó rủ tôi đi xem. Tôi tò mò mà đồng ý. Đến nhà ông, may ít khách, được xem luôn. Tôi ngồi im xem ông và cô em. Ông cầm chai rượu ngửa cổ tu hết một phần ba, đoạn phì hơi vào tờ 5 nghìn. Bắt đầu nói:
- Cô làm nghề gì?
- Dạ làm giáo viên ạ.
- Cô dạy lớp mấy?
- Dạ lớp 2.
- … Ngày bé cô học rất giỏi nhưng bị đúp một năm. Giờ cô bị ông hiệu trưởng trù nên chỉ được dạy lớp 2. Cô dạy lớp 4, lớp 5 thì nhiều tiền lắm.
Ông lại dốc chai, tu, khà một tiếng khoan khoái. Ông đang định nói tiếp thì tôi giật áo cô em. Về. Ra đến ngõ tôi không nhịn được, cười phá lên. Cô em cũng cười ngặt nghẽo. Thế mà lạ kì, ông Hợi vẫn có khách. Vợ con ông mặc kệ vì đỡ khoản rượu và thỉnh thoảng cũng có đồng mắm muối.
Một thời gian, công an xã đến dẹp. Ông Hợi phải xin lỗi trước dân. Ông thú thật… Tôi được uống rượu thì cứ nói. Vả lại người xem cứ gật gù tin. Tôi tưởng mình biết bói.
Nghiện rượu thành thầy bói, chân dung ông thầy bói làng tôi đấy.



Read More..

Thứ Sáu, 22 tháng 3, 2013

TRE ÂM




Làng tôi nhiều tre. Tre bờ sông giữ đất, chống ngập lũ, tre chân gò từ thuở làm trang trại. Ai tính tuổi tre, tre làng tôi đứng thứ nhất. Những bụi tre cây sin sít cây, ong óng vươn; những cây tre già quá, chết khô, mưa nắng. Búi không có hơi dao, kệ cho to mãi ra. Để làm cảnh, giữ nhà hay để điều gì? … Tôi không biết nữa. Năm mười, mười lăm tuổi, tôi vẫn thấy những bụi tre như có từ thời nguyên thủy. Làm sao? Làm sao những bụi tre lập dị.
Nhà ông Tường Hoàn nhiều tre nhất ở xóm bờ sông. Năm bụi sau nhà, um tùm rợp bóng bốn mùa. Tre cao lớn đón nắng, đón gió; phần còn lại ngoài vườn trong nhà là thứ ánh sáng nhờ nhờ như trong cõi âm. Cây ổi âm, cây mít âm, bàn ghế ấm chén âm; xoong nồi bát đĩa dưới bếp cũng từ những năm ba mươi thế kỷ trước.
Ông Tường là bố, duy nhất là đàn ông trong nhà. Bà Tẹo vợ ông mất từ năm ông hai mươi bảy tuổi để lại bốn cô con gái là Hoàn, Thành, Chung, Tình. Cô Hoàn hai mươi hai tuổi, Thành, Chung, Tình tiếp sau kém nhau một tuổi.
Ông Tường có nghề bốc thuốc, nghề từ đời năm đời cụ kị ông cha truyền lại. Mọi sinh hoạt chi tiêu trong gia đình trông vào bộ dao cầu, cây thuốc, túi thuốc. Vườn nhà rộng, hơn hai mẫu chỉ có tre, vạt ổi hoang, mấy cây mít khềnh khàng. Đến mùa, thỉnh thoảng thấy cô Tình khi khệ nệ bê mít, khi vẹo người cắp thúng ổi sang cho hàng xóm. Sự bán không có chỗ trong cái gia đình ít ánh mặt trời này. Chỉ một thứ duy nhất, cứ tạm gọi là bán là thuốc. Bệnh người chẳng phân biệt gần xa, tây y chưa vươn tới, những gói thuốc cây, thuốc lá của ông Tường là thánh nhân cho cả làng, những làng xung quanh.
Ông Tường hình như không ra khỏi nhà bao giờ. Đám cưới, đám ma không thấy ông. Trẻ con, mới lớn không biết mặt ông. Người quen ông là những người nay ốm mai đau. Có những tiếng nọ kia về ông; thì bụi tre dày đặc, cao vút, vùng nhờ nhờ sáng tối nhận lấy và không mang đến ông. Có khi đến ông, nhưng ông chẳng ra ngoài biết phản ứng, kết quả ra sao. Khu vườn, ngôi nhà im thin thít.
Bốn cô con gái từ bao giờ giống ông. Lặng lẽ, u tối. Trang phục một loại bà ba gụ như từ một bàn tay cắt khâu. Bốn cô ơi tóc dài sắp đến gót chân rồi, chưa có cái kéo nào, bàn tay nào động đến. Những ánh mắt đàn ông xa xăm nơi nao.

2.
Ông Tường bốc thuốc, uy, tín, ân, nghĩa đều nhiều. Nếu anh chị được làm cái cột cái nhà ông sáng mùng ba tết thì tôi tin chắc chắn những điều nọ tiếng kia về ông là thị phi.
Một đôi vợ chồng già, hơn ông cả chục tuổi, quì sụp dâng lễ; đứng dậy vẫn ngồi nép vào mép sập, chân tay như con cái, đôi mắt biêng biếc nhận ơn.
Cũng một đôi vợ chồng, anh chồng lùn tịt, chị vợ cao ráo xinh gái. Anh chồng đụn quá, xách đôi gà trống thiến vào thẳng gian giữa. Chị vợ bảo còn hở hở mãi. Chị  nói có đầu có đuôi… Ông cho nhà con cả một buồng gan, bươm như xơ mướp rồi, chỉ còn ba tiếng thở nữa là vào quan tài. Thuốc ông, tấm lòng ông đem chồng về cho con. Ba bát rồi năm bát, bảy bát, nhà con da thịt đầy lên, con sắp có thằng cu. Ơn ông cả bằng trời. Anh chồng bẻ ngón tay đôm đốp, như là anh đến đây để bẻ ngón tay.  
Một bà béo, vừa vào đã thấy nóng. Cái dạ con của bà sa đã về gần, đúng chỗ rồi. Khổ, suốt ngày chổng mông chổng tĩ ngoài đồng, tối về chồng đòi bao nhiêu cho bấy nhiêu, ai ngờ đẩy cái dạ con suýt xuống âm phủ. Ông lôi lên, đặt ngay ngắn vào chỗ ấy. Năm thang uống chữa, năm thang dặn dò từ nay đừng có lung tung. Một lần dễ bảo, hai lần ba lần thành con ngựa mất cương. Ông ơi không có ông nhà con đi lấy vợ lẽ.
Một chị chạc tuổi cô Hoàn cõng bố vào. Cái bậu cửa, ngáng cây gậy ông già, cây gậy ở lại ngoài hè. Đặt bố xuống sập, cô quạt cho bố. Ông già nhìn ông Tường, đôi mắt tuyệt đối im lặng nhận ảnh. Mêng mang, rồi xoay xoáy. Có thể ngày mai, ngày kia ông sẽ ra Gò Bịch như những buồng chuối chín cây sẽ không còn trong bụi chuối. Ông nhìn để tin, bàn tay đang đưa về miền tuyệt đối. Ông Tường ngồi dịch lại, âm ấm nhè nhẹ từ làn da rất xa. Ông già nói, nhìn đôi mắt, đôi môi là thế. Không phải tiếng người nữa. Tiếng gì cao hơn con người. Mọi người không thể biết được. Ông Tường cũng không thể biết những việc ông làm năm năm tháng tháng, góp vào, góp vào bay lên đến một khi đủ thì phát ra. Nó là một vùng hương hoa và ánh sáng. Nhân, tâm của nó có khi là ông Tường. Phải thế đi cao xanh ơi. Ông già là cái bệnh già, thuốc là cái cớ để xem những bàn tay. Con gái ông vẫn chưa lấy chồng, không thể đành lòng vu qui về nơi một kiếp. Ông Tường lặng lẽ, không thấy bàn tay mà nhiều bàn tay. Thang thuốc tình nặng, đằm vào sâu trong mạch máu chầm chậm của ông. Thương ôi một kiếp con người, tình không nói là tình cao sâu.
… Nhưng những điều thị phi thì vẫn  thị phi. Như trong ân có oán, trong có có không. Những người khôn sớm không dám chắc chắn rằng con đường xanh tươi khi trở về thường ngày lại có màu đen bạc. Những người bái lễ ông Tường, lúc trời giông gió, khi hết chuyện bên nhau, có thể một câu, một chi tiết. Và thị phi như gió cõng đi, nhà nào cũng đến, ai sao thì sao không thể ở nguyên một nhà mà uốn nắn.
Một người đàn ông, bốn cô con gái chưa có đám nào. Ông Tường biết thuốc diệt mình, diệt con? Bậy nào. Không bậy thì nói đi.
3.
Lần đầu tiên tôi vào nhà ông Tường Hoàn khi cái chân phải của mình đã là của cái hố. Cái hố đào đất đắp đê rộng bằng cả vườn nhà. Sâu lắm, tính như bây giờ phải ngót bốn mét; nhưng hồi ấy bé quá, rốt quá, thích đo bằng một vật gì. Lũ trẻ xóm coi cái hố là sân chơi, cái gì lạ lạ là tìm đến chơi. Thằng Hưng thả hòn đá xuống, thằng Thảo đếm một hai ba… đến mười hai thì không nhìn thấy hòn đá đâu nữa, không nghe tiếng gì nữa. Những hòn đá hư thả xuống, bao nhiêu điều mất nết vẫn chưa xong. Đến lượt những chiếc lá vông. Quả như cái dù, liệng liệng chao chao, đẩng lên cố gắng vẫn tuyệt vọng. Lâu một tí nhưng kết cục nó vẫn xuống âm ti. Đầu óc ba đứa trẻ như mũi tên cắm xuống. Thành đất thẳng đứng, sự mon men xuống là không thể. Thằng Hưng đã trượt chân, thằng Thảo tóm được tay, mặt đỏ gay lôi lên. Ba đứa chỉ còn biết tưởng tượng một thế giới khác ngay sau nhà mình. Im lặng. Chợt thằng Hưng - Đố đứa nào nhảy xuống được tao đuổi trâu cho một tuần. Thằng Thảo bảo nhà tao không có trâu, có thì đưa đây ba quả mít. Thằng Hưng gật đầu - Mít nhà ông Tường Hoàn là cùng chứ gì. Thằng Thảo đứng bên mép hố rồi, nó nhắm mắt, tôi thấy chóng mặt lùi lại.
Thằng Thảo không nhảy bị thằng Hưng rủa một câu - Đồ đái dầm, thằng nào không dám nhảy là đồ đái dầm. Tôi bị chạm, giơ tay xin nhảy đầu tiên. Không nhìn xuống, nhìn lên, tôi nhìn hàng rào vông nhà bà Thúy… và co chân.
Tôi không biết gì nữa. Chỉ biết mình đang khóc, hai tay nắm những hòn đá, những chiếc lá vông. Có ai biết là tôi tận cùng với đá, với lá không?
Bà Thúy nghe tiếng khóc của tôi. Lưng còng xuống, chạy quanh hố kêu gào… Giời ơi giời ơi thằng Dũng con nhà Chiên. Ma quỉ đẩy nó xuống… giời ơi.
Tiếng kêu như vỡ giời của bà Thúy gọi bố tôi mãi ở trong gò về. Xuống thì dễ, dễ cũng chỉ mình tôi. Bố tôi mon men, hình như là chóng mặt quá, lại lên, lại mon men. Tiếng khóc của tôi đã khản đặc, giờ còn như con mèo con chó đáy hố. Bố cũng khóc, loay hoay loanh quanh trên cái bầu trời vuông. Về nhà tôi lấy cây tre mà tụt xuống, đứng đấy đến tối à. Quả là sáng kiến cứu mạng.
Không nhớ bố đã chật vật ôm tôi lên bằng con đường tre ấy như thế nào.
Những ngày sau đó tôi sống trên lưng bố. Cái chân của tôi vẫn ở dưới hố chưa gọi được lên. Đâu như ba bốn thầy lang gì đó thì bố đưa tôi đến nhà ông Tường Hoàn. Đúng là bụt chùa nhà không thiêng. Bố có vẻ ngài ngại khi đặt tôi lên cái chõng ngoài hè, mặc dầu ông Tường bảo cứ đưa cháu vào trong này. Ông Tường bảo tôi chỗ nào đau thì cứ kêu nhé. Tôi hét lên khi ông chạm đến ống đồng chân phải. Ông quay sang bố nói, cứ để cháu ở đây, về nhà chuẩn bị một con gà con; gạo nếp, thuốc là của tôi.
Bố về một loáng sau đã xuống, tiếng gà liếp nhiếp trong cái bu bé tí. Cái bu mẹ đan cho tôi, đúng ra là mẹ cầm tay cho tôi đan. Tôi đã cho cả con cún, con miu thưởng thức ở nhà bu. Cái lồng té ra bây giờ là cái nhà táng đưa ma con gà. Con gà chết để tôi sống, sự sống hẹp hòi thế ư?
- Gà đây rồi, xong làm thế nào hở bác? Bố giơ cái bu lên hỏi.
Ông Tường kéo bố ra hè bếp, thì thào. Tôi nghe rõ đừng để cho thằng Dũng nó biết. Mổ gà đi một nhẽ, đằng này… nhưng thang thuốc bắt buộc phải có, biết làm sao. Nhìn nét u buồn, cái bộ điệu sợ sệt như kẻ giết người của ông Tường, tôi lờ mờ đoán một việc nghiêm trọng sắp xảy ra.
Suốt cả chiều tôi chỉ ngồi chơi không với cái chân gãy và nghe tiếng điếu bát thỉnh thoảng lại sọc sọc lên. Tôi nhìn ông sương khói. Chỉ còn bộ quần áo gụ, từ cổ trở lên là một màu trắng. Tóc trắng, khói trắng và điều gì trăng trắng nữa của khu vườn. Tôi chịu. Trong cảm giác linh thiêng, cái chân hình như hết đau.
Bố nói chuyện về ông Chánh Hoen ngày xưa cũng gãy chân. Ông Tường bảo bố ông chữa cho. Tôi thấy ông Tường tặc lưỡi… nhưng tiếc cho ông ấy bỏ sang Pháp, bố tôi chịu trách nhiệm một phần về đôi chân lầm lạc ấy.
Sam sam tối, bố hỏi: Được chưa bác? Ông Tường không trả lời, tiến sát đến mặt bố, hỏi lại: Chú có nhìn thấy ai đây không? Bố đáp: Chả là bác thì còn ai.
Ông Tường bỏ mặc bố đứng trên hè, lấy khăn mặt đi ra giếng. Ông tắm và ông làm gì nữa lâu lắm. Cái chân của tôi hình như lại đau đau. Bố đến bên, vuốt má tôi và nói: Tí ông bảo gì phải nghe nhé. Nhớ đừng kêu. Bố đang chuẩn bị tinh thần cho tôi. Bố ơi yên tâm đi, con dám nhảy xuống hố thì chịu đau có khó gì.
Ông Tường vào. Tôi chỉ thấy mùi hương nhu, hoa bưởi thơm dễ chịu. Ông Tường lại hỏi bố: Chú có nhìn thấy tôi không. Bố đáp: Chỉ nghe tiếng nói của bác và hương thơm thôi. Thế thì được rồi, bây giờ chú ở với cháu ngoài này, tôi bắt đầu làm việc.
Ông Tường đi, từ lúc nào tôi không biết. Màn đêm sâu hun hút, chỉ còn hương hoa rất gần.
Tôi và bố ngồi im. Tiếng giun dế. Tiếng rặng tre kẽo kẹt như từ thời Tấm Cám. Tiếng lá mít chạm cành xoan không rơi xuống đất. Tiếng gì, tiếng gì… tôi chưa nghe thấy bao giờ, không gọi tên được. Vùng mơ hồ khiến tôi như thiu thiu. Bố cũng thế thì phải, tôi cảm giác bố dựa vào tôi, nhưng tôi không thấy nặng. Tôi biết là tôi thức, tôi cố quẫy đạp, nhoi lên hòng nghe được tiếng con gà. Theo cái vùng hương hoa ấy thì ông Tường chẳng thể ở xa, chẳng thể góc vườn hay dưới bụi tre. Hay con gà là con hy con sinh? Tôi nhớ năm ngoái đọc quyển sách của bố nói về hai chữ hy sinh. Hai con vật là con Hy, con Sinh tự nguyện chết cho cả cộng đồng sống. Con Hy, con Sinh đẹp lắm, còn con gà của tôi đẹp nhưng trần tục. Nó phải kêu chứ, tiếng vĩnh biệt loài nào chẳng có. Hay nó cũng kêu nhưng tiếng vào vùng hương hoa hết rồi. Gà ơi mày là con hy con sinh bé nhỏ.
Tôi đang miên man thì thấy ống quần vén lên, rồi tiếng bố: Thôi bác ạ, mặc quần đùi cũng được, nó trẻ con ý mà. Tôi thấy mát mát ở chân, rồi cảm giác vật gì bó vào, chặt chặt dần. Được rồi đấy chú ạ! Lúc này mới thấy tiếng ông Tường.
Tôi bị lóa mắt khi cái đèn bão từ trong nhà đi ra. Ông Tường đang xách nó. Tôi chưa quen cảm giác ánh sáng, nhìn ông như đang từ một miền nào về đây. Hương hoa đã nhạt, mái tóc bạc của ông đã rõ ràng nhưng vẫn ánh lên, có một chút cầu vồng trên đỉnh đầu.
4.
Chân tôi đã khỏi, hàng tháng trời tôi trèo cau bắt cồi cội, trèo nhãn cho người ta để được nhận mấy túm về ăn, nhảy phóc lên lưng trâu như diễn viên xiếc… Tôi truy thu những ngày ngồi tù.
Một ngày mưa dầm tôi lại bị tù. Tôi nằm giường đọc truyện, mẹ ngồi giãi thẻ bên mẹt quần áo. Cái sứt chỉ mông, cái sắp đứt cúc… cái nào cũng có việc kim chỉ. Mẹ vừa làm vừa chuyện, chuyện nọ chuyện kia cứ đều đều như trời mưa. Tôi vừa nhìn trang sách vừa nghe, toàn thấy tiếng trời mưa.
- Hồi cái nhà anh Vui làm sao mà thôi cô Hoàn ấy nhỉ? Chẳng biết mẹ hỏi ai.
- Con biết làm sao. Có khi hồi ấy con chưa chui ra khỏi bụng mẹ.
- Ra rồi. Chín tuổi rồi.
Chết thật đầu không xuôi đuôi không lọt. Chị cả ở vậy, ba cô em cứ thế mà noi gương. Mẹ nói, mẹ thở dài. Tôi không hiểu mình làm sao có cục gì nghèn nghẹn trong cổ. Tôi đứng dậy ra bàn tu hết nửa ấm nước vối.
Mẹ cũng đứng dậy đưa tôi cái quần bảo mặc thử. Cái quần của bố, gấu bị nát, ba bốn lần lên, ngắn quá bố chê. Tôi mặc, mẹ bảo ra dáng thanh niên lắm rồi. Tôi kéo ngăn bàn, lấy cái gương, soi trước bụng, vòng ra sau mông. Thấy ưng nhưng không nói câu nào.
- Chị Chiên có nhà không?
- Ai như tiếng cô Hoàn phải không Dũng nhể?
Tôi chưa kịp trả lời thì cô Hoàn đã vào nhà. Cô đặt cái làn xuống, lấy ra một mảnh vải. Không, một cái áo mới cắt. Cô hỏi mẹ chỗ chiết li… năm trước em vẫn vào hai phân, bây giờ bốn phân mới vừa, nhưng trên lại phùng ra, buồn cười lắm. Mẹ đặt cái áo xuống, đo đo gang tay, rồi bảo: Cứ dưới bốn phân, trên bóp vào một tí là được. Cô Hoàn khâu lược luôn, mặc thử ngay tắp lự. Cô vột vạt: Đúng là bõ công đội mưa đến chị. Cô Hoàn xin phép về để sấy mẻ thuốc. Mẹ nắm tay: Mấy khi đến chơi được, ngồi đã chị bảo cái này.
Hai người rì rà rì rầm. Tôi nghe… đâu như bắt đầu chuyện cái nhà anh Vui hồi đó. Anh Vui là bộ đội nhưng diện B quay. Đợt ấy Huyện đội thu gom tất cả những người B quay về xã tôi đắp đê, mở rộng hai mét và tôn cao bốn mươi phân. Đoạn đê xóm tôi có một đội gồm bốn mươi chú làm, tất nhiên là ở trọ luôn trong xóm.
Chú đội trưởng theo cô đội trưởng đi hỏi lần lượt các nhà. Nhà ai cũng vợ đùn chồng, chồng đùn vợ. Họ không nói thẳng ra nhưng không muốn cho B quay ở. Bao nhiêu người đi đánh Mỹ, cầm chắc cái chết, nói lời chia tay cũng là vĩnh biệt. Thế mà có những người quay đầu, không biết xấu hổ với làng nước. Tội, họ đã phải chịu, họ đã đeo mảnh cót có chữ B QUAY, phải nói to không biết bao nhiêu lần - Ai cũng như tôi thì lấy ai đánh Mỹ. Tôi và lũ trẻ trong xóm đã rồng rắn, ê ê theo đám người xấu xí.
Tôi đã lớn lớn và thấy tồi tội cho họ. Bây giờ họ lập công chuộc tội, đến để đắp đê cho làng mình. Cớ làm sao tránh như tránh hủi. Các nhà thái độ thế nhưng trước lời lẽ của xã, đội đều chấp hành; biết làm sao, bằng mặt không bằng lòng.
Đoàn B quay có đến nhà ông Tường Hoàn hỏi trọ. Ông bảo nhà thì rộng ở hai mươi người cũng đủ nhưng tôi không thể cho ở được. Hỏi làm sao ông nói bệnh nhân đến không thể ồn ào, nhưng thuốc lá của ông không cần ở lại? Gặng nữa, ông bỏ ra vườn. Trơ hới, đoàn B quay và bốn cô con gái. Họ đành đến nhà khác, có người chào to vì biết ông đang gần đâu đó.
Nhà bà Sa bên cạnh tiếp nhận ba người. Chú Vui và hai chú nữa tôi chưa biết tên. Bốn cô nhà ông Tường vẫn nhìn thấy họ tắm ngoài giếng. Tầm sam sam tối, bốn cô hay ra bờ rào nhổ cỏ hoặc lùa gà về chuống. Ông Tường vỡ nhẽ, gầm lên, bốn cô cum cúp đi luôn vào bếp.
Trận bão làm một nửa bụi tre rạp xuống mái nhà. Năm cha con ông Tường suốt buổi sáng ì ạch. Buổi chiều vẫn còn hơn chục cây, không riêng rẽ mà đè lên nhau, muốn được phải bắt đầu từ cây trên cùng. Cây này muốn chặt phải đặt thang lên mái nhà, đứng chót ngọn thang mà chặt. Bốn cô lên thử chóng mặt, ông Tường lên run chân. Thế là cứ để đấy.
5.
Chú Vui để luôn đôi thùng ngoài sân khi cô Hoàn bảo còn mấy cây tre trên mái nhà. Chú đứng ngắm nghía một lúc rồi cầm con dao. Cô Hoàn bảo để em giữ thang cho, chú ngửa cổ, chỉ lên giữa bụi tre - Phải chặt trước, sau đó lên mái rút ngọn. Ngược đời rồi anh ơi. Cô Hoàn lo lắng.
Chú Vui đã leo lên đến lưng bụi. Loay hoay tay bám, tay dao rửa những ánh tre đan chéo. Bình thường người ta phải dùng con dao phát, cán dài. Nhưng dao phát lên cao thì vướng, vả lại chỗ cây gẫy gục, chục cây khác đè lên, hàng trăm hàng nghìn những cái gai như gai bồ kết bị tập trung. Tay chân chú Vui bị những vạch dài, chỗ rớm máu, chỗ máu chảy xuôi làm dài thêm. Kẻ dưới đất lo hơn người trên cây, cô Hoàn cứ ngửa mặt, chốc lại bảo cẩn thận anh nhé.
Chú Vui đã chặt rồi, từ tay dao những mảnh trắng trắng rơi xuống đầu cô Hoàn, như hoa cài mái tóc. Thấy rung rung, rồi cả mái nhà rùng rùng. Ối ối… chỉ nghe tiếng cô Hoàn kêu, chú Vui đã rơi xuống mái nhà, lăn xuống đất.
Bốn cô gái ì ạch không nhấc nổi chú Vui lên. Cái mặt chú vẫn tươi bảo không sao đâu nhưng hàm răng đang nghiến lại.
Rốt cục thì chú Vui tự đứng dậy, chú bám vào tay cô Hoàn. Cô Hoàn sống mũi, mặt mồ hôi chảy ròng, cái tay vòng ra sau lưng bất lực. Cô Hoàn kéo. Chú Vui nhích dần, nhích dần cao lên.  Chú đã đứng lên được, vịn vào vai cô Hoàn. Cái cúc ngực bật từ khi nào, dây áo con trắng, cô Hoàn không biết. Chú Vui thì vẫn đau.
Chú Vui bị bong gân, phần cơ bắp chân thâm tím. Ông Tường sầm mặt khi con gái dìu người đàn ông vào. Ông đi ra góc nhà, cầm cái bọc vải lại, ra hiệu chú Vui ngồi xuống. Chú Vui không ngồi được, cô Hoàn lại từ từ ngả tay theo tấm thân lực lưỡng. Ông Tường quay mặt đi.
Dạo này bà Sa hay sang chơi. Bà ở dưới sân, ngoài vườn với mấy đứa. Bà có gì vui vẻ lắm. Bà bảo đúng là bộ đội có khác. Nhà tôi bây giờ củi chả phải bổ, trong nhà sạch như lau, ngoài vườn đố tìm thấy một chiếc lá, cơm mình lắm hôm các chú cũng nấu hộ. Khổ thân cho cái nhà anh Vui. Tội do là nhà tôi, hôm ấy mà không dở chứng bảo tát giếng thì đâu ra nông nỗi… nhưng mà tập tễnh được rồi. Ông đâu rồi nhỉ? Tôi muốn hỏi chân như thế có phải ăn kiêng gì không? Tôi chỉ biết trừ rau muống ra thôi. Cô Hoàn trong bếp nghe thấy, đi ra, đứng lại, rồi bước vụt ra sau nhà. 
6.
 Bà Sa kêu toáng lên từ ngoài cổng - Con trai rồi. Ông Tường giãn mặt ra một tí, bước ra đến bậu cửa, rồi đột ngột quay gót đi vào buồng. Bà Sa vào không thấy ai, nói to - Chuẩn bị cáng, chiều nay đi đón hai mẹ con nó về. Không ai đáp. Bà Sa lại nói, rõ giọng làu bàu - Lạ cho cái nhà này người đẻ mà cứ như con gà con vịt đẻ ý.
Sốt ruột, nói vào chỗ trống không, bà Sa xuống bếp, bếp lạnh. Ra sau nhà, chả thấy ai. Nhìn phóng đằng bờ rào, ổi chín, trắng cả cây. Bà quên cái việc của mình.
- Ô chị đẻ mà đứng tu ở đây à? Bà giật mình như bị bắt quả tang đang ăn trộm ổi.
- Cô Thành chỉ vào nhà, xua xua tay.
- Không sợ gì hết, có cáng chưa? Đi tôi mượn cho. Nhà Hoạt vợ nó đẻ tháng trước mua hẳn một cái mới tinh.
Thằng cu tên là Vẻ, cái tên bà Sa đặt cho. Mười ngày, một tháng chẳng ai nghĩ đến đặt tên. Vẻ là vui vẻ, vẻ là vắng vẻ, vẻ là mỗi người mỗi vẻ… bà nói một tràng như thầy giáo, nghe vui vui. Cô Hoàn bảo - Vẻ cũng được bà ạ. Cô Thành bế thằng cu lên, áp má mình vào má nó - Vẻ là con chim sẻ nhỉ… ù… ù… con chim lớn nhanh rồi chặt tre đổ cho các dì nhé.
- Chẳng biết là bố nó biết mình có thằng Vẻ chưa nhỉ? Có ai báo chưa? Bà Sa chợt trầm xuống, nhìn xa xăm.
Không ai nói, thằng cu toe toét cười.
- Chúng cháu cũng định báo nhưng chẳng biết anh ấy ở đâu, hình như ở Thanh Tân, Thanh Minh gì đấy?  Hỏi chị Hoàn chị ấy bảo chị không muốn đi đâu hết, thế này là chị mãn nguyện lắm rồi. Chung nói và nhìn chị.

7.
Thằng Vẻ mỗi ngày mỗi khác, nhà cũng khác đi. Ba dì tranh nhau ninh xương, quấy bột, tranh nhau bế. Khổ thân thằng bé, cứ như con búp bê bị giằng từ tay này sang tay khác. Nó khóc, cười, tè vô tổ chức. Ba dì sung sướng lắm, được nó tè, thay tã, vuốt cái chân mềm mát - Vươn vai dài giống/ Hay ăn chóng lớn/ Đi chơi với mẹ. Mẹ nào? Thành dừng tay đang búng vào con chim hỏi. Thì mẹ Thành, mẹ Chung, mẹ Tình. Thế mẹ Hoàn ra rìa à? Ừ cho  ra rìa, tối được ngủ với nó rồi thì phải chịu thiệt chứ.
Thằng Vẻ càng lớn càng giống ông Tường. Mẹ nó, các “mẹ” ai cũng bảo giống bà ngoại. Người đầu tiên phát hiện ra điều này lại là bà Sa. Một buổi trưa, thằng Vẻ ngủ trong cái nôi ngoài hè. Mẹ Hoàn nó đang thái thuốc, mẹ khác đang trong bếp chẳng biết làm gì. Bà Sa không thấy ai, đưa nôi, ru hời mấy câu. Cái nôi trầm bổng, thằng cu hé miệng cười, thằng cu nhăn trán… như là ai ấy nhỉ. Quen quá mà không nhớ ra.
Ô ông Tường hay cười kiểu thoắt sáng thoắt tắt, vầng trán cứ bất chợt nhăn lại. Rồi còn đây, đôi mắt, cái mũi… y như lột ông Tường cách đây bảy mươi năm.
Bà Sa gọi các mẹ của thằng Vẻ ra. Bà nhìn lần lượt, so sánh, bà vào nhìn ông Tường, bà lẩm bẩm: “Đúng thật! Đúng thật!”. Cái định nói của bà Sa ra đến cuống họng thì bị quay trở lại lồng ngực. Bà vuốt ngực một cái rồi bảo - Đừng cho thằng bé uống thuốc gì nhớ. Ăn khỏe ngủ khỏe thế này chẳng phải lo gì. Rõ là một câu trên trời.
Xì xà xì xào, kéo vai hỏi nhau. Đám nhổ mạ ngoài đồng, đám khuân củi bờ sông, đến trong đám ma cũng hỏi thật nhé… biết gì chưa…?
- Thằng Vẻ là con ông Tường, tôi nghi ngay mà.
- Lời nói đọi máu đấy. Bố nó mang súng về lại chối phắt… đâu đâu em có nói đâu.
- Thì nói hay không thì lồn lột ra đấy.
- Bà nhìn nó chưa?
- Chưa. Dưng mà tôi thấy hồi cô Hoàn chửa, chẳng giống ông Tường một tẹo nào.
- Thế mà cũng nói, cái đồ bắc chõ nghe hơi. Hỏi bà Sa xem nào… 
Bà Sa lúng túng, thấy ân hận. Có, có, bà có băn khoăn. Bố Vui, mẹ Hoàn, ông Tường, đến cả thời mồ ma bà Tẹo bà nhắm mắt lại vẫn rõ từng người. Bà muốn rút lại cái điều băn khoăn trót nói hôm đi cấy duỗm nhà Hoạt. Nhưng bát nước đổ xuống đất rồi, bay hơi lung tung rồi. Bây giờ bà có nói lại người ta vẫn không tin, xưa nay ở làng những chuyện lạ vẫn tin hơn những chuyện ngày nào cũng có.
… Thời gian, thời gian, 87 tuổi ông Tường mất. Chuyện thằng Vẻ là con ông tưởng mệt quá ngủ đi rồi thì nay lại trỗi dậy khi thằng cháu ngoại oặt người, khóc ai oán.
- Phải ới bố ơi mới đúng chứ nhỉ. Một người thì thào.
- Tiên nhân cái thằng này. Ông Tường ông ấy bật nắp quan tài, đập cái cầu thuốc vào mặt mày bây giờ.  Một ông bịt mồm người vừa nói.
Thành ma rồi, về nơi cực lạc rồi, hãy để cho linh hồn ông ấy siêu thoát. Đám tang những gương mặt trùng trùng thăm thẳm. Họ nhớ về một thầy lang cao to, đức độ. Họ nhớ về cái ngày ấy mà không có ông Tường thì rành chết. Hình bóng ông như đang quay mặt lại đám tang, khói hương nhòa nhòa thơm thơm mùi thuốc bắc.
Ông như thánh như thần. Giá như không có thằng Vẻ. Sự gợn gợn đưa ông về nơi an nghỉ. Đường vào nghĩa địa đã rải cấp phối, mấy trận mưa đầu mùa làm nhô lên những hòn cuội trắng, đen. Nắng cuối thu nhàn nhạt, gió kéo màu xanh mướt của ngô vụ đông dưới ruộng lên.
8.
Tôi đã bỏ làng từ năm 22 tuổi.
Tôi từng có bao nhiêu hoài bão dự định tương lai. Tôi sẽ học thạc sỹ, lên tiến sỹ, về Hà Nội. Tôi sẽ thành một nhà văn, số đầu sách sẽ cao hơn đầu mình. Tôi đang kiếm tìm, tôi đang trên con đường thiên lý. Ngày nghỉ tôi chẳng cho mình nghỉ bao giờ. Tôi triền miên trong suy tưởng, ngẫm nghĩ. Những khi ý nghĩ nặng quá, tôi hay lang thang vào các bản người Thái, người Mông. Tôi muốn rằng mình sẽ làm nên một điều kinh ngạc trong ngành giáo dục hoặc trên văn đàn.
Tôi bỏ làng từ năm lấy vợ. Hỡi ôi tôi đã lấy vợ, ngần ấy năm, bao nhiêu choàng tỉnh đứng dậy khi thoáng thấy bố mẹ, quê hương. Thế mà kết thúc nhẹ nhàng. Thế là hoài bão thỉnh thoảng còn cơn gió thoảng, mơ ước hẹp lại, dự định lùi dần…
Vợ chồng tôi khởi nghiệp bằng một ngôi nhà tre. Mọi thứ đều bằng tre, trừ vách đất và mái gianh. Nhà lớn cột tre luồn ruổi, nhà bếp cột tre chôn thẳng xuống đất. Cái nhà nguyên là của một anh giáo viên chuyển vùng nhượng cho, đã rách lắm. Tôi nói không ngoa rằng những lúc tức vợ, tôi đá một phát nó sẽ bay xa mười mét. Tôi chưa đá lần nào nhưng đạp thì có. Vợ tôi thấu cái bi kịch của tôi, nhẫn chịu và ngoan ngoãn. Nàng vớ được vàng như lời những người dân thị trấn này nói. Nàng chăm chỉ hàng xay, hàng sáo, nấu rượu nuôi lợn, buôn tắc kè, tê tê… Tôi đã vui khi thỉnh thoảng những hôm trời mưa, nàng mở tủ ngắm nghía, đếm đi đếm lại những quyển sổ tiết kiệm. Nàng bảo rằng chúng ta sắp vĩnh biệt ngôi nhà tre này rồi.
Chúng tôi đã có ngôi nhà cấp bốn ngay mặt phố thị trấn. Ngôi nhà cũ làm củi đun hơn hai năm mới hết. Thỉnh thoảng tôi trở lại vườn xưa, vườn toàn dây lang ngập chân. Tôi nghĩ một mình, đất cứ để nguyên không bán, sau này sẽ dựng một ngôi nhà gỗ, tiền kẻ hậu bẩy như nhà ông Tường Hoàn ở quê. Ý nghĩ khiến người tôi lâng lâng, quê hương thấp thoáng, những bụi tre mốc thếch. Ông Tường khuôn mặt như tiên trong chiều rợp tre, nhòa nhạt. Ông Tường đầm đìa trong những giấc mơ của tôi. Ông cứu được bao nhiêu người, làm bao nhiêu người khỏe mạnh trở lại với ruộng đồng. Cái chân phải của tôi là ông cho, mấy năm đầu giở giời còn đau nhức, đến bây giờ khoan khoái.
Vợ tôi mãi vẫn không có thai, mặc dầu tôi không phải là yếu lắm. Buổi tối chúng tôi hay lên giường sớm. Tay trong tay chuyện trò. Tôi chuyện về cái hồi còn bé, nhảy hố đào đất đắp đê bị gãy chân, ông Tường Hoàn chữa cho, vị thuốc có một con gà bé, giã sống. Nàng dĩ nhiên là chuyện hàng họ, lời lãi. Tôi bảo tiền bạc là vô cùng, hai vợ chồng thế là đủ. Nàng im lặng. Mãi vẫn im lặng, tôi lay lay hỏi ngủ rồi à. Nàng bảo không, anh nói làm em cứ nghĩ, hay là mình buôn hàng quốc cấm trời không cho có con. Đến lượt tôi im lặng, hình như… hình như thế.
Giời đã thương chúng tôi, cuối tháng ấy nàng báo tin mừng. Không tả nổi tôi xốn xang như thế nào. Tôi chăm nàng, chăm con bằng đôi tai, bàn tay đi đâu về là tìm bụng vợ.
Thằng bé lớn dần, tôi tin chắc là thằng cu mặc dầu hồi đó chưa có máy siêu âm.  Mùng mười tháng ba, đúng là thằng cu đã oa oa. Vợ chồng chúng tôi nhìn nhau mãn nguyện.
Nàng không ra khỏi nhà liền ba tháng, béo trắng phát ngốt lên. Thằng cu cũng thế, mũm mĩm và thơm phức.
Sang ngày đầu tiên của tháng thứ tư thì nàng đòi đi chợ. Nàng nhớ hàng họ, những lời bán mua. Tôi chiều, một mình ở nhà trông con, cất giọng à ơi khàn khàn. Thằng bé mau ngủ, vừa cười toe toét đã tiếng thở thơm thơm hơi sữa. Tôi ngắm nghía nó. Quả thật từ ngày có nó hôm nay tôi mới được một mình. Có vợ kiểu gì cũng không tự nhiên. Đôi lông mi dài, cái mũi cao, cái mồm cong cong một tí… sau này gái theo phải biết đây. Tôi sát gần, sang bên phải, sang bên trái, lùi ra xa rồi lại tiến lại. Như có ai trong gương mặt thằng bé. Tôi đi lấy cái gương, sát mặt mình xuống, mặt bố con cùng hướng vào. Không giống mình! Giống một ai quen quen nhỉ. Tôi thấy rất gần mà rất xa, vẫn chưa nghĩ ra. Tệ thật cái đầu.
Mãi tới khi vào bếp quấy bột cho thằng cu, tôi mới đập vào đầu mình một cái - Ông Tường Hoàn. Nó giống in ông Tường Hoàn. Tôi bỏ nồi bột trên bếp, chạy lên kiểm tra lại. Cái khuôn mặt lúc nắn chân tôi, cái nhìn mát nhẹ lúc bó thuốc cho tôi. Tôi đối chiếu, không thể nói khác được.
Vợ tôi rất ngạc nhiên khi tôi bảo mai về quê. Nàng nói toàn điều đúng: Đường xa, thằng bé chưa được bốn tháng, nhà người ta có năm có mười chả nói làm gì, ấy là chưa kể anh với ông hiệu trưởng bằng mặt không bằng lòng chắc gì ông ấy cho đi… Tôi có vẻ hơi siêu siêu nhưng cứng rắn, lấy trịch làm chồng ngay - Đã bảo mai đi là đi. Chuẩn bị quần áo đồ dùng ngay!
9.
Tối đầu tiên, ngôi nhà lá cọ chật ních người. Tôi mệt nhưng vui, các ông các bà hỏi han đủ chuyện. Thằng cu là trung tâm của những lời nựng, nói trộm vía toàn người lạ mà nó chẳng khóc một tí nào, hóng chuyện và cười khanh khách.
- Giống y như thằng bố nó.
- Vừa mới ngày nào thi nhảy gãy chân bây giờ đã lên bố trẻ con.
Tôi cười cười, nói nói trong ánh đèn dầu vàng vàng. Chưa ai nhìn rõ thằng cu, nhìn rõ tôi. 
Sáng hôm sau thì vợ chồng tôi đến nhà cô Hoàn. Mẹ tôi đã kể về cô, về thằng Vẻ, về ba cô Thành, Chung, Tình.
Cô Hoàn nhận ra tôi ngay dù hai mươi năm mới gặp lại. Cô bế thằng cu, khen vợ tôi tốt sữa. Cô hôn chùn chụt nó, ngắm nghía nó, đưa hai tay lên cao, ra xa. Tôi và vợ tôi ngồi bàn nước. Vợ tôi hỏi khẽ - Nhà không còn ai nữa à? Cô Hoàn nghe thấy, giọng nửa nói với thằng cu, nửa nói với vợ chồng tôi:
- Bà Thành, Bà Chung, Bà Tình đi lấy chồng rồi. Tuyên Quang, Yên Bái, Vĩnh Phúc xa lắm.
- Thế thằng Vẻ đâu. Tôi sốt ruột.
- Nó lên rừng lấy cây thuốc. Bây giờ trông hết vào nó.
Vừa nói xong thì thằng Vẻ về. Cô Hoàn đưa thằng cu cho vợ tôi, ra đỡ gánh thuốc trên vai nó. Cả hai đều loạng choạng, ngã xuống. Tôi chạy ra thì hai mẹ con đã đứng dậy. Cô Hoàn giới thiệu, thằng Vẻ xin phép ra giếng tắm qua. Lát sau nó vào chào vợ tôi. Vợ tôi nhìn nó không chớp mắt, rồi nhìn xuống thằng cu.
- Sao giống nhau thế nhỉ? Vợ tôi nhìn tôi khó hiểu.
Không ai nói câu nào. Mãi, cô Hoàn mới nói, như nói cho mình:
- Công nhận là giống. Thằng Vẻ, thằng cu như có máu mủ.  
Tôi định nói nhưng ngại cô.
Tối ấy, mãi vợ tôi vẫn chưa ngủ, chốc lại hỏi:
- Nhà mình với cô Hoàn có họ hàng gì không?
- Không. Tôi hồn nhiên.
-         …Thế là làm sao? Làm sao lại thế nhỉ?
Tôi bảo hỏi lắm chóng già, thằng cu đẹp như tranh vẽ là được rồi. Tôi định nói… đừng dẵm vào nốt chân chú Vui, cũng vì căn vặn cô Hoàn mà chia tay đấy… nhưng kìm lại được. Vợ tôi quê khác, lịch sử bắt đầu từ những người đi khai hoang.
Tôi nằm ôm vợ, choàng tay sang thằng cu. Tôi nhớ chú Vui quá, thương chú quá. Chú về đây mà nhìn thằng cu nhà tôi, bố nó chỉ một lần chữa gãy chân thôi. Còn cô Hoàn…Tôi rì rầm với vợ. Vợ tôi ngùi ngùi - May cho cả làng, có cô Hoàn giữ được nghề thuốc. 
D. A



Read More..

Đảo chờ


Đảo chờ ai đảo chờ ai
Nắng không thèm ngủ trên vai chị gầy
Tóc bay chẳng biến thành mây
Sóng xô vào giữa ban ngày rỗng không




Mênh mông ngồi chốn chờ trông
Chong chong ở cái bóng lồng người đi
Cát thôi cát chỉ rì rì
Chị thôi chị nặng như chì đứng lên

Rau về xanh những người chen
Chị về chị thắp ngọn đèn giữa trưa
Nén hương sống, chắp tay thừa
Người đi bão tố chắc chừa một nơi…

Có người hàng xóm sang chơi
Rưng rưng xuống bếp nụ cười đem lên
Hỏi thăm chuyện chẳng cài then
Người đi chài lưới lại len len vào

Ngoài kia sóng ập sóng gào
Đảo chờ gió bão mãi bào thành tên
Chỉ còn lõi đá quen quen
Nhọn ra phía biển mà xiên tháng ngày.

Đảo Nhơn Châu trưa 28/ 4/ 2011
Read More..

Thứ Hai, 18 tháng 2, 2013

Chị



Với một nhà thơ nữ!


Lột áo khoác ra
vỗ ngực phẳng
thẳng hơi vại bia

xương xương đàn ông
nhòn nhõn đàn bà
nở mình đêm gió
này thì có, này thì không…

lộc khà lộc khộc
lên dốc, xuống dốc
vèo qua đỉnh đèo
phanh đá hộc

tên mộc, người mộc
bạn bản nằm ngổn ngang nhà
bạn phố có đứa khiếp vía
tặng hoa.

Read More..